Thursday, January 9, 2014

Danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974

Năm nay vật đổi sao dời?

Bình minh hé lộ, mặt trời sẽ lên?

http://www.thanhnien.com.vn/pages/20140108/danh-sach-cac-quan-nhan-viet-nam-cong-hoa-hi-sinh-trong-hai-chien-hoang-sa-1974.aspx

(TNO) Thanh Niên Online xin cung cấp tới bạn đọc danh sách 74 quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh khi chiến đấu chống lại quân xâm lược Trung Quốc trong Hải chiến Hoàng Sa năm 1974.


6 quân nhân trong số 74 người đã ngã xuống trong trận chiến bảo vệ Hoàng Sa - Ảnh tư liệu
Phần lớn những tử sĩ này thân xác đã tan vào biển cả và suốt 40 năm qua, chỉ có người thân, bạn bè và đồng đội mới biết và tưởng nhớ họ.
Vẫn còn nhiều thông tin chưa rõ ràng trong danh sách dưới đây (khuyết họ, chức vụ…), rất mong bạn đọc giúp chúng tôi bổ sung thông tin, hoàn chỉnh danh sách để, dẫu muộn, chúng ta có thể thực hiện nghĩa vụ của mình trước những người đã ngã xuống trong khi chiến đấu bảo vệ chủ quyền đất nước.
Thanh Niên Online xin cảm ơn kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình (TP.HCM) và cựu Hạm trưởng HQ-4 Vũ Hữu San (Mỹ) đã cung cấp và giúp chúng tôi điều chỉnh các thông tin trong danh sách.
Sau đây là danh sách các quân nhân Việt Nam Cộng Hòa hi sinh trong Hải chiến Hoàng Sa 1974:
Số TT
Chức vụ
Họ tên
Đơn vị
1
Trung sĩ Cơ khí
Trần Văn Ba
HQ-10
2
Hạ sĩ Cơ khí
Phạm Văn Ba
HQ-10
3
Hải quân đại úy
Vũ Văn Bang
HQ-10
4
Hạ sĩ Cơ khí
Trần Văn Bảy
HQ-10
5
Thượng sĩ nhất quản nội trưởng Trọng pháo
Châu
HQ-10
6
Trung sĩ nhất Vô tuyến
Phan Tiến Chung
HQ-10
7
Hạ sĩ Giám lộ
Nguyễn Xuân Cường
HQ-10
8
Hạ sĩ Điện khí
Trần Văn Cường
HQ-10
9
Trung sĩ Bí thư
Trần Văn Đàm
HQ-10
10
Hạ sĩ nhất Vận chuyển
Nguyễn Thành Danh
HQ-4
11
Hạ sĩ Vận chuyển
Trương Hồng Đào
HQ-10
12
Hạ sĩ nhất đoàn viên
Trần Văn Định
HQ-10
13
Trung úy Người nhái
Lê Văn Đơn
Người nhái
14
Hạ sĩ Cơ khí
Nguyễn Văn Đông
HQ-10
15
Hải quân trung úy
Phạm Văn Đồng
HQ-10
16
Hải quân trung úy
Nguyễn Văn Đồng
HQ-5
17
Trung sĩ Trọng pháo
Đức
HQ-10
18
Thủy thủ nhất Trọng pháo
Nguyễn Văn Đức
HQ-10
19
Trung sĩ Thám xuất
Lê Anh Dũng
HQ-10
20
Hạ sĩ Quản kho
Nguyễn Văn Duyên
HQ-16
21
Thượng sĩ Ðiện tử (truy phong chuẩn úy)
Nguyễn Phú Hảo
HQ-5
22
Hạ sĩ Ðiện khí
Nguyễn Ngọc Hòa
HQ-10
23
Hạ sĩ Giám lộ
Nguyễn Văn Hoàng (nhỏ tuổi nhất)
HQ-10
24
Hải quân trung úy Cơ khí
Vũ Ðình Huân
HQ-10
25
Hạ sĩ Trọng pháo
Phan Văn Hùng
HQ-10
26
Thượng sĩ nhất Ðiện khí
 Võ Thế Kiệt
HQ-10
27
Thượng sĩ Vận chuyển
Hoàng Ngọc Lễ (cao tuổi nhất)
HQ-10
28
Thủy thủ nhất Thám xuất
Phạm Văn Lèo
HQ-10
29
Thượng sĩ nhất Cơ khí
 Phan Tấn Liêng
HQ-10
30
Hạ sĩ Trọng pháo
Nguyễn Văn Lợi
HQ-10
31
Thủy thủ nhất Cơ khí
Dương Văn Lợi
HQ-10
32
Hạ sĩ Người nhái
Ðỗ Văn Long
Người nhái
33
Trung sĩ Ðiện khí
Lai Viết Luận
HQ-10
34
Hạ sĩ nhất Cơ khí
Ðinh Hoàng Mai
HQ-10
35
Hạ sĩ nhất Trọng pháo
Nguyễn Quang Mến
HQ-10
36
Hạ sĩ nhất Cơ khí
Trần Văn Mộng
HQ-10
37
Trung sĩ Trọng pháo
 Nam
HQ-10
38
Thủy thủ nhất Trọng pháo
Nguyễn Văn Nghĩa
HQ-10
39
Trung sĩ Giám lộ
Ngô Văn Ơn
HQ-10
40
Hạ sĩ Phòng tai
Nguyễn Văn Phương
HQ-10
41
Thủy thủ nhất Phòng tai
Nguyễn Hữu Phương
HQ-10
42
Thượng sĩ nhất Trọng pháo
Nguyễn Ðình Quang
HQ-5
43
Thủy thủ nhất Trọng pháo
Lý Phùng Quy
HQ-10
44
Trung sĩ Cơ khí
Phạm Văn Quý
HQ-10
45
Trung sĩ Trọng pháo
Huỳnh Kim Sang
HQ-10
46
Hạ sĩ nhất Vận chuyển
Ngô Sáu
HQ-10
47
Trung sĩ Cơ khí
Nguyễn Tấn Sĩ
HQ-10
48
Thủy thủ Trọng pháo
Thi Văn Sinh
HQ-10
49
Trung sĩ Vận chuyển
Ngô Tấn Sơn
HQ-10
50
Hạ sĩ nhất Vận chuyển
Lê Văn Tây
HQ-10
51
Hải quân thiếu tá - Hạm trưởng (truy phong trung tá)
Ngụy Văn Thà
HQ-10
52
Hải quân đại úy Hàng hải-Thương thuyền
Huỳnh Duy Thạch
HQ-10
53
Hạ sĩ Trọng pháo
Nguyễn Văn Thân
HQ-10
54
Thủy thủ Điện tử
Thanh
HQ-10
55
Hải quân trung úy
Ngô Chí Thành
HQ-10
56
Hạ sĩ Phòng tai
Trần Văn Thêm
HQ-10
57
Hạ sĩ Phòng tai
Phan Văn Thép
HQ-10
58
Hạ sĩ nhất Vận chuyển
Lương Thanh Thú
HQ-10
59
Thượng sĩ Điện tử
Thọ
HQ-10
60
Thủy thủ nhất Vô tuyến
Phạm Văn Thu
HQ-10
61
Thủy thủ nhất Điện tử
Ðinh Văn Thục
HQ-10
62
Trung sĩ Giám lộ
Vương Thương
HQ-10
63
Thủy thủ (?) Người nhái
Nguyễn Văn Tiến
Người nhái
64
Hải quân thiếu tá – Hạm phó
Nguyễn Thành Trí
HQ-10
65
Trung sĩ Trọng pháo
Nguyễn Thành Trọng
HQ-10
66
Hạ sĩ Vận chuyển
Huỳnh Công Trứ
HQ-10
67
Thượng sĩ Người nhái
Ðinh Hữu Từ
Người nhái
68
Trung sĩ Quản kho
Nguyễn Văn Tuân
HQ-10
69
Thủy thủ nhất Cơ khí
Châu Túy Tuấn
HQ-10
70
Biệt hải
Nguyễn Văn Vượng
HQ-4
71
Hải quân trung úy
Nguyễn Phúc Xá
HQ-10
72
Trung sĩ Trọng pháo
Nguyễn Vĩnh Xuân
HQ-10
73
Trung sĩ Ðiện tử
Nguyễn Quang Xuân
HQ-10
74
Trung sĩ Điện khí
Xuân
HQ-16
Cập nhật:
- 11 giờ 30: Thanh Niên Online vừa nhận được điện thoại của nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc (TP.HCM). Ông Phúc cho biết theo thông tin do gia đình cung cấp, ở vị trí thứ 58 là Hạ sĩ nhất Vận chuyển Lương Thanh Thú (HQ-10), không phải "Lương Thanh Thi" như danh sách ban đầu. 
- 13 giờ 00: Kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình (TP.HCM) vừa nhắn tin cho Thanh Niên Online, thông báo gia đình cho biết ở vị trí 21 là Thượng sĩ Điện tử Nguyễn Phú Hảo, không phải "Hào" như danh sách ban đầu. Chúng tôi xin phép điều chỉnh.
Xin cảm ơn nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc và kỹ sư hàng hải Đỗ Thái Bình.
Danh sách trên vẫn còn cần bổ sung và điều chỉnh, Thanh Niên Online mong tiếp tục nhận được sự góp ý của bạn đọc và rất xin lỗi nếu có điểm nào đó chưa chính xác do điều kiện xác minh khó khăn.
Thanh Niên Online


http://namrom64.blogspot.com/2014/01/danh-sach-anh-hung-tu-si-hoang-sa-vai.html#comment-form

Danh-Sách Anh-Hùng Tử-Sĩ Hoàng-Sa vài hình xưa (tài liệu)

Anh-Hùng Tử-Sĩ đã hy sinh Hoàng-Sa trong khi bảo vệ Tổ Quốc, chống trả lại sự xâm lăng của ngoại bang xâm lược, cần thiết phải được vinh danh. Hình ảnh chân dung của họ là những di vật quý hoá muôn đời sau.

_____________________________









HQ.10 & Tường-Trình  Ủy-Khúc / Tài liệu
 
Tên
 
Số Quân
 
1  Sách "LượcSử HQVNCH"    
HQ.Th/Tá
Ngụy-Văn
Thà
63A/700.824
HT
2     121BTL/HmĐ
HQ.Đ/Uý
Nguyễn-Thành
Trí
61A702.714
HP
3   Sách "LượcSử HQVNCH"  
ThS.1/TP
 
Châu
 
QNT
4     121BTL/HmĐ
TS./GL
Vương
Thương
64A700.777
 
5     121BTL/HmĐ
TS./VCh
Phan-Ngọc
Đa
71A703.001
 
6     121BTL/HmĐ
TS./TP
Võ-Văn
Nam
71A705.697
 
7     121BTL/HmĐ
ThS./ĐT
Trần-Văn
Thọ
71A706.845
 
8     121BTL/HmĐ
TS./QK
Nguyễn-Văn
Tuấn
71A700.206
 
9   Sách "LượcSử HQVNCH" 
TS./TP  
 
Đức
 
 
10   157BTL/HmĐ
HQ.Tr/Uý
Vũ-Văn
Bang
66A/702.337
 
11   157BTL/HmĐ
HQ.Tr/Uý
Phạm-Văn
Đồng
67A/701.990
 
12   157BTL/HmĐ
HQ.Tr/Uý
Huỳnh-Duy
Thạch
63A/702.639
CKT
13   157BTL/HmĐ
HQ.Tr/Uý
Ngô-Chí
Thành
68A/702.453
 
14   157BTL/HmĐ
HQ.Tr/Uý
Vũ-Đình
Huân
69A/703.058
 
15   157BTL/HmĐ
THS.1/CK
Phan-Tân
Liêng
56A/700.190
 
16   157BTL/HmĐ
THS.1/ĐK
Võ-Thế
Kiệt
61A/700.579
 
17   157BTL/HmĐ
THS./VC
Hoàng-Ngọc
53A/700.030
 
18   157BTL/HmĐ
TRS.1/VT
Phan-Tiến
Chung
66A/701.539
 
19   157BTL/HmĐ
TRS./TP
Huỳnh-Kim
Sang
70A/702.678
 
20   157BTL/HmĐ
TRS./TX
Lê-Anh
Dũng
70A/700.820
 
21   157BTL/HmĐ
TRS./ĐK
Lai-Viết
Luận
69A/700.599
 
22   157BTL/HmĐ
TRS./VCh
Ngô-Tấn
Sơn
71A/705.471
 
23   157BTL/HmĐ
TRS./GL
Ngô-Văn
Ơn
69A/701.695
 
24   157BTL/HmĐ
TRS./TP
Nguyễn-Thành
Trong
72A/700.861
 
25   157BTL/HmĐ
TRS./TP
Nguyễn-Vinh
Xuân
70A/703.062
 
26   157BTL/HmĐ
TRS./CK
Phạm-Văn
Quý
71A/703.502
 
27   157BTL/HmĐ
TRS./CK
Nguyễn-Tấn
66A/701.761
 
28   157BTL/HmĐ
TRS./CK
Trần-Văn
Ba
65A/700.365
 
29   157BTL/HmĐ
TRS./ĐT
Nguyễn-Quang
Xuân
70A/703.755
 
30   157BTL/HmĐ
TRS./BT
Trần-Văn
Đảm
64A/701.108
 
31   157BTL/HmĐ
HS.1/VCh
Lê-Văn
Tây
68A/700.434
 
32   157BTL/HmĐ
HS.1/VCh
Lương-Thanh
Thú
70A/700.494
s/c 21/8/2012
33   157BTL/HmĐ
HS.1/TP
Nguyễn-Quang
Mén
65A/702.384
 
34   157BTL/HmĐ
HS.1/VCh
Ngô
Sáu
68A/700.546
 
35   157BTL/HmĐ
HS.1/CK
Đinh-Hoàng
Mai
70A/700.729
 
36   157BTL/HmĐ
HS.1/CK
Trần-Văn
Mông
71A/703.890
 
37   157BTL/HmĐ
HS.1/DV
Trần-Văn
Định
69A/700.627
 
38   157BTL/HmĐ
HS./VCh
Trương-Hồng
Đào
71A/704.001
 
39   157BTL/HmĐ
HS./VCh
Huỳnh-Công
Trứ
71A/701.671
 
40   157BTL/HmĐ
HS./GL
Nguyễn-Xuân
Cường
71A/700.550
 
41   157BTL/HmĐ
HS./GL
Nguyễn-Văn
Hoàng
72A/702.678
 
42   157BTL/HmĐ
HS./TP
Phan-Văn
Hùng
71A/706.091
 
43   157BTL/HmĐ
HS./TP
Nguyễn-Văn
Thân
71A/702.606
 
44   157BTL/HmĐ
HS./TP
Nguyễn-Văn
Lợi
62A/700.162
 
45   157BTL/HmĐ
HS./CK
Trần-Văn
Bảy
68A/701.244
 
46   157BTL/HmĐ
HS./CK
Nguyễn-Văn
Đông
71A/703.792
 
47   157BTL/HmĐ
HS./PT
Trần-Văn
Thêm
61A/701.842
 
48   157BTL/HmĐ
HS./CK
Phạm-Văn
Ba
71A/702.200
 
49   157BTL/HmĐ
HS./DK
Nguyễn-Ngọc
Hoà
71A/705.756
 
50   157BTL/HmĐ
HS./DK
Trần-Văn
Cường
72A/701.122
 
51   157BTL/HmĐ
HS./PT
Nguyễn-Văn
Phương
71A/705.951
 
52   157BTL/HmĐ
HS./PT
Phan-Văn
Thép
70A/703.166
 
53   157BTL/HmĐ
TT.1/TP
Nguyễn-Văn
Nghĩa
72A/703.928
 
54   157BTL/HmĐ
TT.1/TP
Nguyễn-Văn
Đức
73A/701.604
 
55   157BTL/HmĐ
TT.1/TP
Thi-Văn
Sinh
72A/703.039
 
56   157BTL/HmĐ
TT.1/TP
Lý-Phùng
Quí
71A/704.165
 
57   157BTL/HmĐ
TT.1/VT
Phạm-Văn
Thu
70A/702.198
 
58   157BTL/HmĐ
TT.1/PT
Nguyễn-Hữu
Phương
73A/702.542
 
59   157BTL/HmĐ
TT.1/TX
Phạm-Văn
Lèo
73A/702.651
 
60   157BTL/HmĐ
TT.1/CK
Dương-Văn
Lợi
73A/701.643
 
61   157BTL/HmĐ
TT.1/CK
Châu-Tuỳ
Tuấn
73A/702.206
 
62   157BTL/HmĐ
TT.1/DT
Đinh-Văn
Thục
71A/704.487
 
63   157BTL/HmĐTT /VChNguyễn-VănLai71A/703.668
 
 
 
 
 
 
HQ. 4
 
 
 
 
 
Sách "TàiLiệu HảiChiến HSa"
HQ Th/Uý
Nguyễn-Phúc
 
Tr. Khẩu 20
Sách "TàiLiệu HảiChiếnHSa"
HS1/VC
Bùi-Quốc
Danh
 
Xạ Thủ
Sách "TàiLiệu HảiChiến HSa"
Biệt-Hải
Nguyễn-Văn
Vượng
Xung-phong
Tiếp Đạn
 
 
 
 
 
 HQ.5 
 
 
 
 
 
   Sách "LượcSử HQVNCH"
HQ Tr/Uý
Nguyễn-Văn
Đồng
 
 
   Sách "LượcSử HQVNCH"
ThS/ĐT
Nguyễn-Phú
Hào
 
 
   Sách "LượcSử HQVNCH"
TS1TP
Vũ-Đình
Quang
62A700 710 
 
 
 
 
 
 
HQ.16
 
 
 
 
 
    Sách "LượcSử HQVNCH"
TS/ĐK
 
Xuân
 
 
    Sách "LượcSử HQVNCH"
HS/QK
Nguyễn-Văn
Duyên
 
 
 
 
 
 
 
Người-Nhái
 
 
 
 
 
    Sách "LượcSử HQVNCH"
Tr/Uý NN
Lê-Văn
Đơn
 
Tr. Toán
    Sách "LượcSử HQVNCH"
TS/NN
Đinh-Khắc
Từ
 
 
    Sách "LượcSử HQVNCH"
HS/NN
Đỗ-Văn
Long
 
 
    Sách "LượcSử HQVNCH"
NN
Nguyễn-Văn
Tiến
 
 
Phụ-Chú:
- Tổn-thất Nhân-mạng HQ-10 là 7 SQ + 23 HSQ + 32 ĐV = 62. (Hải-Sử Tuyển-Tập, HQVN. 2004, trang 310). 
- 2 Tường-Trình Ủy-Khúc # 121/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K ngày 16-2-1974 & # 157/BTL/HmĐ/NV/TTUK/K
ngày 02-3-1974 do Hải-Quân Đại-Tá Nguyễn-Xuân-Sơn, Tư-Lệnh Hạm-Đội, ký tên & đóng dấu.
Sách "Tài Liệu Hải Chiến Hoàng Sa", Tác-gỉả Vũ Hữu San & Trần Đỗ Cẩm,2004.
- Sách "Lược Sử Hải Quân VNCH",Tác-gỉả Vũ Hữu San, 2009, tái bản 2012.
- Cố HQ Chuẩn-Uý Vũ-Văn-Ấn, Sĩ-Quan Nhân-Viên Hạm-Đội, trước khi qua đời, có nhắn lại là:
(1) Ngoài 2 Tường-Trình Ủy-Khúc trên, Ông cũng đã viết các bản khác nữa cho HQ-4, HQ-5, HQ-16, HQ-10.
(2) Có một Đoàn-Viên trong Danh-Sách Tường-Trình Ủy-Khúc # 157 về trình-diện Hạm-Đội sau ngày 02-3-1974. Rất tiếc, Ông không còn nhớ ra danh-tính Đoàn-Viên này sau 30-4-1975, vì kinh qua nhiều ngày trốn-tránh VC, tù tội, vất vả gian-truân, vượt biên, xin tị-nạn, làm lại cuộc đời mới tại Canada, rồi bệnh-hoạn…
Nguồn : http://haichienhoangsa.freetzi.com/danhsachtusi.htm


_____________

Danh sách này thì có chi tiết ...

1/ Hộ Tống Hạm Nhật Tảo, HQ 10

Số tử thương trên Hộ Tống Hạm Kỳ Hoà HQ10 là 42 nhân-viên (con số này hiện đang được phối kiểm). Sau đây là những chiến sĩ Hải Quân tử trận trên HQ 10.

* Cố Hạm Trưởng HQ Thiếu Tá Ngụy Văn Thà, chết nằm sấp trên Đài Chỉ Huy.

* Tr.Úy/CK Huỳnh Duy Thạch, Cơ-Khí-Trưởng, Hàng Hải Thương Thuyền qua, đã lập gia-đình rồi.

* Tr.Úy Vũ Văn Bang, K19, SQ Đệ Tam, chết tại phòng CIC. Ngày rời Sài-gòn đi công tác Tr.Úy Bang có mang tấm hình đứa con gái đầu lòng chưa đầy tháng theo và cho các SQ trên tàu xem.

* Tr.Úy/CK Ngô Chí Thành, K21, mặt bị cháy nám đen, hai chân hầu như lià khỏi thân người được đưa lên từ hầm máy.

* Tr.Úy Nguyễn(?) Văn Đông, HQĐB, chết mất mặt tại khẩu 76.2 ly ở sân trước.

* Th.Úy Vũ Đình Huân , SQ/PhụTá trưởng phiên, chết trên Đài Chỉ Huy với Hạm Trưởng.

* Th.S/Vận Chuyển Lễ không rõ nhiệm sở tác chiến ở đâu trên tàu.

* TS/CK Nguyễn Tấn Sĩ. có lẽ đã chết tại hầm máy.

* TS/Điện Tử Trung(?) lo truyền tin.

* HS/VC Lê Văn Tây, trung học từ Ban-mê-thuột, ghì nòng súng cho đến giờ phút chót, chết ở sân lái.

* HS/TP Trứ tử thương tại khẩu hải pháo 76.2 ly tại sân mũi.

* TS/TP Đức tử thương tại sân hải pháo 76.2 ly.

* HS/GL Ngô(?) Văn Ơn.

* TT/ĐT Thanh, tử thương tại phòng CIC, chìm theo chiến hạm.

* TT/TP Thi Văn Sinh. Tử thương chìm theo chiến hạm.

* TT/TP Mến bị thương và chết tại khẩu 42 bên tả hạm.

* TT/CK Đinh Hoàng Mai, ghì súng cho đến giờ phút chót, đồng đội dưới bè đào thoát kêu không chịu xuống, hy sinh theo chiến hạm tại nhiệm sở đại bác 20 ly.

* HS/VC Trứ, không rõ nhiệm sở, tử thương chìm theo chiến hạm.

* TS/Thám Xuất Lê Anh Dũng, tử trận tại Trung Tâm Chiến Báo ( CIC ) HQ 10.

Tổng số nhân viên đào thoát trên 5 chiếc phao tập thể là 28 người (biết rõ). Có 8 nhân-viên (biết rõ con số nhưng không nhớ hết tên từng người) đã chết vì vết thương nặng hoặc sức quá yếu do thiếu nước và thực phẩm trước khi được tàu Hoà-lan cứu. Trong số 8 người này có:

* HQ Đại-Úy/Hạm Phó Nguyễn Thành Trí (chết lúc 2:00AM ngày 20/1/1974 vì vết thương ở trán),

* TS/Giám Lộ Vương Thương ra đi khoảng trưa ngày 21/1/1974,

* TS/Quản Kho Tuấn chết vào chiều 19/1/1974,

* TS/Trọng Pháo Nam và 4 nhân-viên kia trên những chiếc phao khác nên tôi không biết họ ra đi lúc nào.

* Hải Quân Lương Thanh Thú (*)

Vào đêm 22/1/1974 tàu Hòa-lan vớt lên được 20 nhân-viên từ 5 chiếc phao. Qua sáng ngày 23/1/1974 nhân phát giác một chiến hữu chết là

* Th.S/Quản Nội Trưởng Châu ( kiệt lực, từ trần khi đang ngồi trên toilet ở tàu).

2/ Khu Trục Hạm Trần Khánh Dư, HQ 4

Có ba chiến sĩ hy sinh:

* HQ Th/Uý Nguyễn Phúc Xá, Tr. Khẩu 20 ly

* HSIVC Bùi Quốc Danh, Xạ Thủ

* Biệt Hải Nguyễn Văn Vượng, Xung phong tiếp đạn trên HQ-4.

3/ Tuần Dương Hạm Trần Bình Trọng, HQ 5

Có ba chiến sĩ hy sinh:

* HQ Tr/Uý Nguyễn Văn Đồng

* 2 Hạ Sĩ Quan không rõ tên

4/ Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt, HQ 16

* Trung sĩ Điện-khí Xuân tử-thương, Ông bị đứt cánh tay tại hầm máy[52], không cầm máu được, hy-sinh.

* Hạ-Sĩ Quản Kho Nguyễn Văn Duyên. Trong 15 chiến sĩ đào-thoát từ Hoàng-Sa, được ghe đánh cá dân vớt về Quy Nhơn: Hạ-sĩ Duyên bị kiệt sức chết khi vừa về tới Quân Y Viện Quy Nhơn. 

5/ Toán Người Nhái: 

* HQ. Trung Uý Lê Văn Đơn, tử thương vì đạn Trung Cộng trong khi xung phong đổ bộ chiếm lại đảo.

* HS Đỗ Văn Long tự Long Sandwich, tử thương khi đổ bộ, thủy táng.

Wednesday, January 8, 2014

Ý nghĩa tên các bang ở Mỹ

http://tuoitre.vn/The-gioi/The-gioi-muon-mau/589001/y-nghia-ten-cac-bang-o%C2%A0my.html

TTO -  Báo điện tử Business Insider vừa có bài viết giải thích ý nghĩa từ nguyên học (nguồn gốc của từ ngữ) của tên 50 bang ở Mỹ.


Các tên bang này có nguồn gốc từ nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Tây Ban Nha và cả Latin, Algonquin, Siouan, Iroquoian… Trong đó, Latin và Algonquin cùng có tám bang có tên bắt nguồn từ ngôn ngữ này, chiếm số lượng nhiều nhất.
TTO trích dịch ý nghĩa một số tên bang quen thuộc:
Alabama: xuất phát từ albah trong tiếng Choctaw có nghĩa là “máy cắt cây”.
Alaska: đi từ alaxsxaq trong tiếng Aleut, có nghĩa là “vật thể mà dòng sông đang hướng đến”.
Arizonaali sona-g - có nghĩa là “cây sồi tốt” trong tiếng O'odham.
Connecticut: xuất phát từ quinnitukqut trong tiếng Mohican, có nghĩa là “trên một dòng sông chịu ảnh hưởng của thủy triều”.
Florida: trong tiếng Latin, florid có nghĩa là “đẹp kinh hồn”.
Georgia: có nghĩa là nông dân, theo từ gốc Latin geergon.
Hawaii: có từ gốc theo tiếng Hawaii là hawai'i, được cho là mang nghĩa “nơi của Chúa”.
Kentucky: có nguồn gốc từ tiếng Wyandot, nghĩa là “trên bụi cây”.
Louisiana: xuất phát từ ludovicus trong tiếng tiếng Latin Trung cổ, có nghĩa là “nổi tiếng trong chiến tranh”.
Massachusetts: có nghĩa là “trên một ngọn đồi lớn” trong tiếng Algonquian.
Michigan: bắt nguồn từ chữ meshi-gami trong tiếng Algonquian, nghĩa là “hồ lớn”.
Minnesota: từ mnisota trong tiếng Siouan, nghĩa là “nước đục”.
Mississippimeshi-ziibi trong tiếng Algonquian có nghĩa là “dòng sông lớn”.
Nevada: có nghĩa là “núi tuyết” trong tiếng Tây Ban Nha.
New York: York trong tiếng Anh cổ là eoforwic, có nghĩa là “khu đất cây thủy tùng”.
Ohio: xuất phát từ ohi:yo' trong tiếng Seneca, nghĩa là "dòng sông tốt".
Oklahomaokla trong tiếng Choctaw nghĩa là “người/quốc gia”, còn homma là màu đỏ.
Texas: bắt nguồn từ taysha trong tiếng Caddo có nghĩa là “bạn bè, đồng minh”
Washington: trong tiếng Anh cổ, washington nghĩa là “khu đất của một người tên Wassa”.
TRƯỜNG SƠN

Quốc kỳ VN: Cờ đỏ sao vàng - từ đâu ra?

Quốc kỳ VN: Cờ đỏ sao vàng - từ đâu ra?

Phan Châu Thành (Danlambao) -  “Logo nước Việt” hôm nay

Là người Việt Nam hôm nay, chúng ta ai cũng bị phải quá quen với Cờ đỏ sao vàng là Quốc kỳ của quốc gia “mình”, là cái logo nước Việt, mà mấy ai giải thích được nó xuất phát từ đâu và nó có ý nghĩa gì và đại diện cái gì, tại sao nó - cái hình chữ nhật đặc màu đỏ máu có ngôi sao vàng năm cánh ở giữa đó - lại được Hồ Chí Minh chọn là lá cờ đại diện cho đất nước và dân tộc Việt ta từ cái ngày ở hang Pắc Bó, cho đến hôm nay?

Bài này, tôi xin cố gắng trả lời câu hỏi đa phần (nó là gì, nó từ đâu, tại sao nó được chọn, và nó còn được chọn là logo đất nước như thế nào?...) này về cái logo kệch cỡm đó. 

Xuất xứ ở Việt nam

Về thông tin “lịch sử chính thức” của đảng CSVN, thì khoảng năm 1944-1945 trước khởi nghĩa Tháng Tám, Hồ Chí Minh đã chọn từ nhiều đề xuất của các “họa sĩ cách mạng Việt” đưa lên một làm logo nước Việt bên cạnh logo đảng CSVN (cờ đảng) là cờ đỏ búa liềm, hầu như không có giải thích vì ai ai cũng sung sướng tự hào chấp nhận hai ngọn cờ đó. Dân Việt ta lúc đó và cả đến hiện nay có lựa chọn nào khác đâu.

Sau 1975, nhiều kẻ còn cạnh tranh bản quyền sáng tác logo quốc gia đó, mà đảng vẫn lặng im bất phân minh (truyền thống của đảng mà). Rồi để chuẩn bị cho Đại hội đảng VI người ta còn phát động thi đua sáng tác thay đổi quốc kỳ và quốc ca mới, nhưng đâu vẫn hoàn đó, giống như phong trào sửa đổi Hiến pháp vừa rồi. Chỉ thấy lá cờ đỏ sao vàng đó ngày càng đẫm máu dân hơn, và phủ bóng đỏ khắp nơi, mọi lúc trên đời sống dân Việt trong nước... 

Ví dụ như: sắp Tết Nguyên đán rồi, họ lại sắp xua quân đi bắt dân treo cờ đỏ sao vàng ăn tết màu đỏ lần thứ gần bảy chục đây... Nhưng chúng ta đếu thấy lá cờ đó có ăn nhập gì với cái văn hóa ăn Tết theo lịch tàu của dân ta đâu, nó cũng chẳng có dính gì đến văn hóa Việt bằng như mấy cái cờ đám tang có hình vuông bốn năm màu của dân ta dùng phổ biến hôm nay.
Gốc gác Cờ đỏ Sao vàng xuất phát từ đâu?

Cờ đỏ như là cờ quốc gia, xuất phát lần đầu tiên ở nước Nga, với nền đỏ búa liềm, cũng là cờ của đảng cộng sản Toàn nước Nga mà Lenin và Trotsky cầm đầu. Búa và liềm đại diện cho hai giai cấp chính trong đảng cộng sản là công nông, ai cũng biết thế, còn màu đỏ để phân biệt với cờ màu trắng của Nga Hoàng và quân dội của họ (Bạch vệ). Quân đội cộng sản cũng vì thế được gọi là Hồng quân. Từ đó, màu đỏ là màu cách mạng Nga, cùng với búa và liềm, lan ra toàn thế giới, như chung ta biết. 

Một ngôi sao năm cánh màu đỏ được Trotsky thêm vào đảng kỳ và quốc kỳ vào năm 1923 (trên nền đỏ chúng thành sao vàng cùng màu búa liềm), và Trotsky cũng ra lệnh cho mỗi người lính Hông quân đính trên mũ và trên áo một ngôi sao năm cánh đỏ. Việc này Trotsky làm sau khi được giải thích là năm cánh sao đỏ đại diện cho năm Châu lục sẽ được cách mạng Nga phát triển đến trên toàn Thế giới, điều mà Trotsky đặc biệt tâm đắc và tham vọng.

Từ đó, thông qua Quốc tế cộng sản 3 và 4, và các Comintern của chúng mà cờ đỏ búa liềm và cờ đỏ sao vàng được các học trò cộng sản của Leenin/Trotsky/Stalin từ tất cả các nước mang về nước mình làm đảng kỳ và quốc kỳ của họ.

Comintern và những lá Cờ đỏ sao vàng ở Châu Á

Comintern là Quốc tế Cộng sản (Communist Internaional) nằm ở các khu vực, ở Châu Á họ có văn phòng tại Trung quốc (Hongkong, Thượng Hải) và Singapore, để chỉ đạo và điều phối các đảng cộng sản các nước, từ Trung Quốc, Triều tiên, Việt, Thái, Miamma, Malaysia, Indonesia... Từ những năm 30, 40 rồi 50 thế kỷ trước, các đảng cộng sản khu vực châu Á trên đã bắt đầu xuất hiện với những lá cờ màu đỏ và hoạt động bạo lực rất tích cực khắp nơi...

Về đảng kỳ, tất cả mọi đảng cộng sản đều lấy mẫu cờ đảng CS Toàn Nga là mẫu, đó là cờ đỏ búa liềm vàng ở giữa, có thểm thêm chữ tên đảng mình theo tiếng từng nước như KPCC của Nga, KPI của Indonesia, MCP của Malaysia. Những đảng có tên hay thay đổi như đảng CSVN thì chỉ dùng cờ đỏ búa liềm là đảng kỳ cho ổn định, Trung quốc cũng vậy.

Điều thú vị xuất hiện ở quốc kỳ thống nhất của các nước cộng sản châu Á. Nếu với cái nôi cách mạng cộng sản Nga, đảng kỳ là quốc kỳ (đảng kỳ của họ sau có thêm hình đầu Lenin rồi Stalin và Marx), thì quốc kỳ của của các nước này đều chỉ có những ngôi sao vàng năm cánh mà Trotsky ưa thích (chiếm lĩnh năm Châu!), nhưng chúng mang thêm một ý nghĩa khác.

Chúng ta hãy bắt đầu từ quốc kỳ Trung quốc hiện nay, với nền đỏ và năm ngôi sao vàng, một lớn ở trên và bốn nhỏ ở dưới tròn xung quanh. Năm ngôi sao lúc này được cộng sản TQ gán cho ý nghĩa đại diên năm dân tộc chính của Trung Hoa: lớn nhất ở trung tâm là người Hán, và bốn dân tộc “tự bị trị” là Tây Tạng, Choang, Nội Mông và Tân Cương.

Tiếp theo, quốc kỳ của Miến Điện do đảng cộng sản Burma dự kiến sẽ là cờ đỏ bốn sao, trong đó một sao lớn hơn nằm góc trên bên trái (đại diện dân tộc chính là Barma chiếm khoảng 70% dân số), hai dân tộc tiếp theo chiếm gần 10% dân số là Shan và Kayin đước đại diện bởi hai ngôi sao nhỏ hơn, và ngôi sao nhỏ thứ ba đại diện khoảng ba chục sắc tộc còn lại trong đó đông đảo nhất là người Rakhine chiếm khoảng 3.5% dân số...

Khá “đẹp” là lá cờ đỏ ba sao dự kiến là quốc kỳ Malaysia do đảng cộng sản Malaysia chuẩn bị, có ba ngôi sao bằng nhau xếp hình tam giác chính giữa, đại diện ba sắc tộc lớn của Malaysia là người Malay, người Indun (gốc Indonesian) và người Hoa. Tuy nhiên đảng cộng sản Malaysia (MCP) đã không thành công để dùng quốc kỳ này... Lý do? Lãnh tụ - tổng bí thư của MCP từ 1938 đến 1947 là Lai Te là người Việt (tiếng tàu là Lai Teck) là người của Comintern cử đến sau khi hàng trăm lãnh tụ và thành viên MCP người Malay, Hoa và Indo bị ai đó bí mật bán đứng cho chính quyền Anh (giống như hàng loạt lãnh tụ cộng sản Việt bị Pháp bắt giết hết dọn đường cho sự xuất hiện cũng năm 38/39 của Hồ Chí Minh ở Việt nam, như tôi đã để ý trong một entry khác)... Lai Te bị kết tội là gián điệp tam trùng của Trung quốc, Nhật và Anh, nhưng chỉ bị hạ bệ (đảng cộng sản Việt Nam rút về!) sau khi biển thủ 1 triệu đô từ quĩ đảng... Không biết sau khi về nước đồng chí Lai Te (Lai Teck) đã được đảng CSVN hay đảng mẹ CSTQ phân công công tác vào đâu với tên gì mới, nhưng những gì đồng chí Lai Te để lại sau khoảng 10 năm công tác ở MCP chắc chắn làm dân tộc này tởn đến muôn đời bọn cộng sản, nhưng cũng không tệ hại như đồng chí Hồ chí Minh để lại (và ở lại) với đảng CSVN từ 1938 đến 1969...  Hai đồng chí này đều là cán bộ ăn lương của Comintern do CS Trung quốc điều hành cả, vì KPCC của Stalin thời đó rất loạn rồi lại vướng vào Thế chiến II.

Điều thú vị là ở lá quốc kỳ của Indonasia do đảng cộng sản Indonasia (KPI) dự kiến. Có hai ngôi sao đỏ viền vàng trên nền đỏ đứng cạnh nhau hay lấp ló nhau ở vị trí góc trên bên trái (giống như quốc kỳ TQ), đại diện cho hai nhóm sắc tộc chính của Indonesia là Javanese (chiếm khoảng trên 42% dân) và Sundanese (16%). Nhưng Indonesia là quốc gia có đến trên 300 dân tộc mà chỉ có hai được đại diện trên lá quốc kỳ, có nghĩa là trên 300 dân tộc chiếm trên 42% dân số đã bị cộng sản KPI bỏ qua nên họ thất bại trong đẫm máu chăng, dù đã được TQ hỗ trợ người và vũ khí đầy mình? Hai ngôi sao thì họ không giữ được nhưng máu thì họ đã nhuộm đỏ đất nước... Nhưng vẫn thật may cho dân tộc quốc gia Inđonesia!

(Các bạn có thể dễ dàng tìm thấy và kiểm tra về các lá quốc kỳ trên trong wiki về các đảng CS).

Nói về các lá cờ đỏ đẫm máu năm sao, bốn sao, ba sao và hai sao là để quay về nói lại về cái logo nước Việt hiện nay, có lẽ là đẫm máu nhất, một sao.

Tại sao Cờ đỏ một sao vàng?

Theo logic của gia đình cờ đỏ cộng sản trên, thì cờ đỏ một sao vàng của Việt Nam hôm nay là em út trong đám trên, cùng mẹ cùng cha, cũng máu mủ ruột già, cũng xuất xứ từ “các bố” Nga rồi từ Comintern Tàu. Cùng một màu máu lửa chiến tranh. Và ngôi sao là đại diện cho dân tộc Việt trên bãi máu (54 dân tộc anh em khác nên trốn vào rừng xanh kỹ nhé!), thế thôi.

Như vậy, chúng ta đã trả lời gián tiếp các câu hỏi ban đầu: Nó là gì? Nó là chiến tranh đổ máu, nó là mang chết chóc (bạo lực cách mạng) đến mọi nơi. Nó từ đâu? Nó từ Nga và Tàu. Tại sao nó được chọn cho Việt Nam? Vì Comintern phân công và phân chia thế, tùy theo tình hình sắc tộc trong các quốc gia Đông Nam Á mà Trung quốc phụ trách trực tiếp thực hiện. 

Và nó đã được chọn là logo đất nước Việt như thế nào? Qua phân công của Comintern Tàu và tài đóng kịch (hay bịa kịch sau này?) - vở kịch “chọn quốc kỳ trong hang pắc bó” của diễn viên đại bịp đại tài - đồng chí cộng sản quốc tế HCM...

Lá cờ em út trong gia đình cờ cộng sản lại trở thành quốc kỳ duy nhất trong số các lá ký “đàn em” suốt gần 70 năm qua (không kể quốc kỳ mẹ 5 sao), là vì nó đã bị thấm đẫm nhiều máu xương nhất của dân tộc em út đó nhất. Tất cả chỉ vì dân tộc đó phải sống sát cạnh bà mẹ đẫm máu Trung hoa.

Quốc kỳ của Việt Nam hiện nay, rõ ràng là chẳng dính dáng gì với lịch sử, văn hóa, đất nước, con người dân tộc Việt ta từ ngàn năm nay cả, mà lẽ ra một lá quốc kỳ phải thế, như quốc kỳ của mọi dân tộc khác - thể hiện văn hóa, ý chí và nguyện vọng của họ. 

Chúng ta đâu có nguyện vọng mang bạo lực cách mạng đến năm châu? Nó đã là thứ hình ảnh của tội ác cộng sản đối với Loài người, và ngoại lai hoàn toàn với dân tộc Việt ta. Quyết định chọn một quốc kỳ như thế dường như đã “xong” trước khi HCM khăn gói về phương Nam và chui vào hang Pác Bó...

Ngoài ra, chúng ta có nên mãi đưa xương máu do tội ác của cộng sản làm logo cho đất nước? 

Xương máu là vô giá, nhưng để làm biểu tượng dân tộc, một đất nước? Tự hào là một dân tộc luôn tự làm máu xương mình đổ tràn lan trong chiến tranh liên miên?

Cái gì làm máu xương dân tộc ta đã đổ nhiều thế trong suốt gần thế kỷ nay? Đó là búa liềm hay bạo lực cách mạng phô trên lá đảng kỳ đang cầm quyền ở nước ta suốt gần 70 năm nay.

Lá quốc kỳ Việt Nam hôm nay chỉ là bóng dáng của những lá đảng kỳ đẫm máu đang bị thế giới đốn gục khắp nơi. Tôi tin một ngày gần đây đảng kỳ CSVN sẽ gục để quốc kỳ Việt Nam không còn một màu đẫm máu nữa.

Một quốc kỳ thực Việt sẽ sớm được giương cao và tung bay trên đất nước, trong lòng mọi người Việt.

Tôi tin.
Phan Châu Thành
http://danlambaovn.blogspot.com/2014/01/quoc-ky-vn-co-o-sao-vang-tu-au-ra.html#.Us11rZ5dWSo

Tuesday, January 7, 2014

Ảnh Sài gòn 1967

http://bolapquechoa.blogspot.com/2014/01/chum-anh-sai-gon-1967.html

Theo Reds.vn 














NQL: Có điều này không mới nhưng phải nhắc lại:
Dù không muốn nói ra, dù bây giờ ai nói ra đều bị coi là phản động, 
rằng đã có một cuộc giải phóng ngược trong ngày 30/4/1975,
 bên thắng cuộc đã được hoàn toàn giải phóng, trước tiên và trên 
hết là sự giải phóng về tư duy, ít nhất là đúng với mình.

Năm 1976 mình 20 tuổi, lần đầu vào Sài Gòn, thấy người bán hàng
niềm nở chào mời khách hàng mình quá ngạc nhiên. Mua bất 
cứ thứ gì cũng được chủ hàng cho vào túi nilon lại càng ngạc nhiên tợn. 
Lần đầu tiên mình hiểu thế nào là thế giới tự do và điều mà cô thầy
 mình hay nói về Sài Gòn là phồn vinh giả tạo là rất giả tạo.

Ngày ấy học Sống như anh, mình hỏi cô giáo, nói thưa cô sao anh Trỗi
 nghèo thế mà có xe máy để đi? Cô giáo trả lời, nói bọn tư bản nham
 hiểm lắm các em ạ, chúng bắt dân nghèo phải mua xe máy để chúng
 nó bán được xăng. Lúc đó mình khinh ghét bọn tư bản lắm, sau
 ngày 30/4/1975 mình mới hiểu ra đó là lối giáo dục nham hiểm, 
cô giáo mình chỉ là cái loa, không loa thế có mà ăn cám!

Cảm ơn ngày 30 /4/năm 1975 đã giúp tôi giải phóng tư duy từ lúc đó
 sau khi đứng trước vạn cuốn sách từ bé đến lớn chưa khi nào trông thấy.

Giả sử không có 30/4/1975 thì đến nay rất có thể miền Nam là 
Hàn Quốc còn miền Bắc là Bắc Triều về mọi phương diện,  chắc thế.

Dưới góc nhìn của Bill Mullin - một nhân viên chính phủ Mỹ,
Sài Gòn năm 1967 hiện lên như một thành phố sinh động và đầy
 sắc màu.
Bên cạnh vẻ hào nhoáng ấy là bức tranh tương phản của những khu
 ổ chuột ven sông hay vùng nông thôn vắng lặng...
Đại lộ Nguyễn Huệ nhìn từ trên cao.

Khung cảnh đại lộ Nguyễn Huệ vào buổi tối.

Khách sạn - quán bar Eden Roc.

Một góc phố trung tâm Sài Gòn vào buổi đêm.

Ngã 6 Phù Đổng.
Các đốm lửa hỏa châu (pháo sáng quân sự) được phóng lên từ sân bay Tân Sơn Nhất.

Máy bay quân sự C-141B của Mỹ tại Tân Sơn Nhất.

Khung cảnh trong nhà ga sân bay Tân Sơn Nhất.

Trẻ em Sài Gòn.

Những pano quảng cáo trên phố.

Con đường chạy qua công viên Tao Đàn.
Trẻ em bơi lội tại đài phun nước giữa đại lộ Nguyễn Huệ.

Khu cư xá Rex BOQ.

Khách sạn Continental Palace.

"Chợ đen" Sài Gòn, nơi bán các mặt hàng lậu với giá rẻ hơn chính hãng. Những thứ màu vàng là hộp phim Kodak.

Xe jeep của lính Mỹ án ngữ trước cổng một ngôi chùa.

Lính Mỹ (góc dưới bên phải) ngồi ăn quà vặt trước ngôi chùa.

Chợ Bến Thành.

Một chú vượn nghỉ ngơi khi người chủ đi vắng.

Một gia đình khá giả trên xe máy.

Nữ sinh áo dài Sài Gòn.

Nữ nhân viên tiếp tân khả ái tại một khách sạn.

Chợ cây cảnh trên phố.

Chợ bán động vật.

Những chiếc Citroen quý phái xuất hiện khá nhiều trên đường phố Sài Gòn.

Ga Sài Gòn nhìn từ khách sạn trên đường Võ Tánh.

Cảnh tắc đường ở Sài Gòn.

Nhà thờ Đức Bà.

Đại sứ quán Mỹ ở Sài Gòn.

Cho voi ăn mía tại Thảo Cầm Viên.

Cầu bắc qua rạch Thị Nghè.

Áp phích quảng cáo bộ phim "Johnny Yuma" của Italia trước một rạp chiếu phim.

Một rạp khác chuyên chiếu phim chưởng Hồng Kông.

Khu chợ chính tại Chợ Lớn, nơi tập trung đa số người Hoa.

Cảnh chợ búa ở Sài Gòn.

Xóm ổ chuột ở rạch Bãi Sậy.

Những con thuyền trên sông Sài Gòn.

Một chiếc xe tang ở Chợ Lớn.

Pano quảng cáo kem đánh răng Hynos xuất hiện mọi nơi.

Xe chở khách "Lambro 550" ở Sài Gòn.

Khu vực nông thôn Sài Gòn có mức sống thấp hơn nhiều so với nội đô.

Bài Thơ cho Hải đảo hờn căm

Sunday, January 5, 2014

Nhật Tảo nằm lại, không kích bất thành

http://tuoitre.vn/nhip-song-tre/588727/nhat-tao-nam-lai-khong-kich-bat-thanh.html
40 năm Hải chiến Hoàng sa - Kỳ cuối

Nhật Tảo nằm lại, không kích bất thành

06/01/2014 11:15 (GMT + 7)
TT - “Thiếu tá, hạm trưởng Ngụy Văn Thà tử trận ngay trên đài chỉ huy vì mảnh đạn cắt ngang cổ. Đại úy, hạm phó Nguyễn Thành Trí cũng bị thương nặng ở bụng, mặt và ngực."

HQ-10 Nhật Tảo đã nằm lại biển Hoàng Sa - Ảnh tư liệu

"Sau cú đâm thẳng vào trục lôi hạm 389 Trung Quốc, máy hộ tống hạm HQ-10 Nhật Tảo hoàn toàn bất khiển dụng, và các khẩu pháo chính cũng hư hỏng. Đại úy Trí máu ướt đẫm quần áo, ngậm ngùi phát lệnh rời chiến hạm”.
40 năm đã trôi qua, nhân chứng Trần Văn Hà trên chiến hạm Nhật Tảo vẫn không thể quên được thời khắc đó.
Rời tàu
Cũng như các binh sĩ khác, ông Trần Văn Hà, thủy thủ cơ khí, được đại úy Trí gọi tập trung lên boong, chuẩn bị rời tàu. Toàn cảnh bi hùng hiện rõ trước mắt mọi người.
Thiếu tá Thà gục xuống tay lái tàu. Nhiều sĩ quan, binh lính khác cũng tử trận hoặc bị thương la liệt khắp nơi. Thân tàu chi chít lỗ đạn pháo. Phía đối phương, trục lôi hạm 389 cũng đang bốc cháy rừng rực.
“Một số anh em nhất quyết đòi ở lại với tàu. Đó là những người đã bị thương nặng và cả một số pháo thủ chưa bị gì”. Nhắc lại chi tiết này, ông Hà nhớ mãi câu nhắn nhủ của những người bị thương nặng: “Thôi, chiến hữu xuống bè đi, để chúng tôi ở lại”. Đó là Lê Văn Tây, Ngô Văn Sáu...
Họ vừa nhắn nhủ lời chia tay vừa xem cơ số đạn còn lại. Trước khi hi sinh, thiếu tá Thà đã dự đoán trận hải chiến sinh tử. Ông cho người chuẩn bị bè cứu sinh và cột sẵn một số lon nước, túi kẹo năng lượng.
Chính nhờ sự cẩn thận này mà các binh sĩ rời tàu có thể cầm cự trên biển. Những binh sĩ còn khỏe thả bốn chiếc bè xuống. Có chiếc đã bị trúng mảnh đạn nhưng vẫn còn dùng tạm được.
Trong Nhật ký Hoàng Sa, chuẩn úy Tất Ngưu, sĩ quan phụ trách các khẩu đội pháo phía sau chiến hạm Nhật Tảo, kể ông là một trong những người nhảy xuống biển sau cùng.
Trước khi nhảy, ông còn gọi hạ sĩ Lê Văn Tây rời tàu. Viên hạ sĩ này rắn rỏi trả lời: “Thôi, tôi ở lại ăn thua đủ với bọn Trung Quốc, chuẩn úy cứ nhảy đi”.
Lúc ấy, những chiếc bè dưới biển đã bị sóng đánh dạt xa tàu. Chuẩn úy Tất Ngưu phải cố gắng bơi thật lâu mới bám được.
Khoảnh khắc cuối cùng
Ông Hà kể lúc ấy tất cả ánh mắt trên bè đều hướng về con tàu của mình trong khoảnh khắc cuối cùng. Hai chiến hạm Trung Quốc tăng viện đến sau đã xối xả bắn như trả thù vào chiếc Nhật Tảo.
Đạn bắn trả vẫn lóe lên trên đầu các họng súng từ chiến hạm VN. Nhìn nòng súng còn lóe đạn là biết đồng đội mình vẫn còn sống và đang tử chiến. Chiều chập choạng tối, ánh đạn lóe trên nòng pháo từ chiếc Nhật Tảo thưa dần rồi bặt hẳn.
Đứng từ đảo Hữu Nhật (Robert), trung sĩ Trịnh Văn Quý, thuộc nhóm đổ bộ từ khu trục hạm Trần Khánh Dư HQ-4, chứng kiến cảnh chiếc Nhật Tảo oằn mình dưới lửa đạn của chiến hạm Trung Quốc.
Ông Quý chính là chứng nhân những phút hải chiến đầu tiên khi chiến hạm Nhật Tảo dũng mãnh tả xung hữu đột cùng lúc với hai tàu chiến 389 và 396 Trung Quốc.
“Và tôi cũng chính là chứng nhân khoảnh khắc cuối cùng của chiến hạm này trước lúc nó chìm hẳn vào khoảng 8g ngày 20-1-1974 ở vị trí gần đảo Hữu Nhật”.
Dưới biển, các bè lúc này đã được cột lại với nhau, nhưng một chiếc bị sóng đánh tung ra. Đêm xuống, đại úy Trí lặng lẽ trút hơi thở cuối cùng, rồi thượng sĩ giám lộ Vương Thương, thượng sĩ Tuấn, Thọ... cũng lần lượt ra đi theo hạm trưởng, hạm phó của họ.
Những binh sĩ còn lại trên bè cũng bị bỏng nắng ban ngày, rét run ban đêm và lả dần trong đói khát. Hạm đội 7 của Mỹ án binh bất động, không đáp ứng đề nghị của VNCH nhằm cứu binh sĩ VNCH đang trôi giạt ngoài khơi.
Đến chiều tối 22-1, tức sau bốn ngày ba đêm lênh đênh trên biển, những người lính cuối cùng của chiến hạm Nhật Tảo được chiếc tàu buôn Hà Lan phát hiện, cứu vớt.
Tất cả chỉ còn 21 người! Chiến hạm HQ-10 Nhật Tảo đã nằm lại dưới đáy biển Hoàng Sa.
Không kích tái chiếm bất thành!
Một ngày sau khi Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc, lực lượng phi công chiến đấu của quân đội VNCH đã được huy động cho một chiến dịch phản công tái chiếm chưa từng có.
Một trong những nhân chứng của chiến dịch ấy là Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, đại tá phi công Nguyễn Thành Trung, lúc bấy giờ (1974) là thiếu úy phi công lái máy bay tiêm kích F5E của không lực VNCH.
Ông kể: “Lệnh tập kết các phi đoàn máy bay F5 từ Sài Gòn ra Đà Nẵng được ban hành khẩn cấp ngay trong ngày 20-1, một ngày sau khi Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa. Khi ấy không đoàn chiến thuật 63 (thuộc sư đoàn 3 không quân) đóng tại Biên Hòa có năm phi đoàn F5 với hơn 100 chiếc sẵn sàng đợi lệnh."
Trong khi anh em phi công của các phi đoàn đang rất náo nức chuẩn bị cho chiến dịch phản kích tái chiếm thì suốt ngày hôm đó, các phi cơ RF5A của phi đoàn 522 đã bay ra Hoàng Sa chụp không ảnh toàn bộ khu vực mang về căn cứ Đà Nẵng để chuẩn bị cho anh em phi công nghiên cứu.
Toàn bộ ảnh chụp khu vực quần đảo Hoàng Sa được phóng lớn. Tất cả anh em phi công đều nhìn thấy rõ cả số hiệu các tàu Trung Quốc đang đậu trên vùng biển Hoàng Sa. Có 41 chiếc tất thảy...
Chuẩn bị cho trận đánh tái chiếm Hoàng Sa với tinh thần “Trân Châu cảng” vừa khẩn cấp vừa náo nức. Trước ngày vào chiến dịch, tất cả anh em phi công của các phi đoàn F-5 đều ký dưới lá đơn “Xin được chết cho Hoàng Sa”.
Khi tất cả các phi đoàn F.5 được lệnh tập trung ở Đà Nẵng, người Mỹ vẫn chưa biết đến kế hoạch này. Nhưng chuẩn bị đến giờ G thì kế hoạch đã bị chặn lại. Cũng như trước đó, hạm đội 7 của Mỹ vẫn án binh bất động không hề có một động thái nào để cứu giúp binh sĩ VNCH.
Tất cả hào khí háo hức, sự chuẩn bị chu toàn của anh em nhằm đánh một trận “sạch không kình ngạc” chiếm lại quần đảo Hoàng Sa từ tay Trung Quốc bỗng chốc tan thành mây khói từ “lệnh của trên”!
Q.VIỆT - L.Đ.DỤC - L.NAM
Hoa Kỳ chính thức bỏ rơi Hoàng Sa từ lúc nào?
Tài liệu mang mã số 1974STATE012641_b, đề ngày thứ bảy 19-1-1974 dưới đây chính là văn bản chính thức đầu tiên tỏ rõ lập trường của “đồng minh Hoa Kỳ” đối với Hoàng Sa:
“Đụng độ vũ trang trên quần đảo Hoàng Sa rõ ràng đã dẫn đến một số thương vong về phía Chính phủ Việt Nam, với báo cáo của Chính phủ Việt Nam rằng hai pháo hạm có thể bị đánh chìm bởi tên lửa Trung Quốc. Chính phủ Việt Nam đã yêu cầu Hoa Kỳ hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn.
1. Tình hình phức tạp bởi sự hiện diện được báo cáo trên đảo Hoàng Sa (do Chính phủ Việt Nam chiếm đóng) của một nhân viên dân sự Mỹ trực thuộc văn phòng DAO (tùy viên quân sự Hoa Kỳ) tại Đà Nẵng. Chúng tôi không biết tại sao đương sự lại có mặt ở đó.
2. Chúng tôi đã yêu cầu Bộ quốc phòng chỉ đạo cho hải quân Hoa Kỳ đóng bên ngoài khu vực. Cách đây hai ngày (17-1), chúng tôi đã thảo luận tình hình với đại sứ Martin qua điện thoại và bày tỏ mối quan tâm của chúng ta trong việc làm dịu tình hình.
3. Thông cáo báo chí sẽ gồm những dòng chữ sau đây: Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong các cuộc tranh chấp xung đột về quần đảo Hoàng Sa, song mạnh mẽ mong muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình. Chúng tôi hiểu rằng cả CHNDTH và Chính phủ Việt Nam đều đã từng chiếm đóng một số đảo khác nhau thuộc nhóm đảo Hoàng Sa trong một số năm. Chúng tôi không rõ vụ đụng độ này đã nổ ra trong hoàn cảnh nào. Lực lượng quân sự Mỹ không dính dự vào vụ này.
4. Chúng tôi đang bảo tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn khuyên Chính phủ Việt Nam tiến hành những bước tối thiểu nhằm tự vệ và cứu cấp các công dân của mình (và nhân viên Hoa Kỳ chúng ta nữa), và cố gắng tối đa tránh những đụng độ trực tiếp nữa với lực lượng CHNDTH...”.
Làm thế nào mà Nhà Trắng lại không biết tại sao nhân viên DAO nọ lại có mặt ở Hoàng Sa, lại không rõ đụng độ đã xảy ra trong hoàn cảnh nào, song lại “khuyên Chính phủ Việt Nam tránh đụng độ trực tiếp thêm nữa với CHNDTH” khi mà từ hôm 17-1, tức khi trận Hoàng Sa mới bắt đầu khởi sự (17-1), “chúng tôi đã thảo luận tình hình với đại sứ Martin qua điện thoại”?
Một sự “đứng ngoài cuộc” chính thức. Không phải vì Hiệp định Paris mà từ cái bắt tay Mỹ - Trung năm 1972.
HỮU NGHỊ

tái chiếm Hoàng Sa



Tổng thống Thiệu ra lệnh tái chiếm Hoàng Sa, nhưng...


http://motthegioi.vn/quoc-te/tong-thong-thieu-ra-lenh-tai-chiem-hoang-sa-nhung-36676.html
Ngay sau khi các chiến hạm của hải quân VNCH thất thủ trước Trung Quốc, đích thân Tổng thống  Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh cho Tư lệnh hải quân vùng I "bằng mọi giá" phải giành lại đất của tổ tiên. Lần này, lực lượng không quân được giao vai trò tiên phong.
Gấp rút chuẩn bị tái chiếm Hoàng Sa
Ngay trong ngày 19.1.1974, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã ra lệnh điều 5 phi đoàn chiến đấu F5, bao gồm 4 phi đoàn thuộc sân bay Biên Hoà, 1 phi đoàn thuộc sân bay Đà Nẵng, tổng cộng 120 chiếc.
Địa điểm tập kết là sân bay Đà Nẵng.
Song song đó, Hải quân Việt nam Cộng hòa cũng gấp rút hình thành một Hải đoàn đặc nhiệm mới sẽ có nhiệm vụ thực hiện kế hoạch tái chiếm đảo sau khi lực lượng không quân rút đi. 
Hải đoàn này bao gồm tàu HQ-6, HQ-17 điều động từ Trường Sa trở về và chiến hạm HQ-5 từng tham chiến tại Hoàng Sa trước đó. 
Đại tá Hà Văn Ngạc tiếp tục được chỉ định làm chỉ huy Hải đoàn này. 
Về phía không quân, sau khi nhận được lệnh, chỉ huy các phi đoàn 520 – Nguyễn Văn Dũng, phi đoàn 536 – Đàm Thượng Vũ, phi đoàn 540 – Nguyễn Văn Thanh, phi đoàn 544 – Đặng Văn Quang, phi đoàn 538 – Nguyễn Văn Giàu đã bàn bạc và lên kế hoạch tác chiến rất kỹ lưỡng. 
Theo đó, bốn phi đoàn có nhiệm vụ tấn công và oanh tạc các chiến hạm của Trung Quốc, một phi đoàn có nhiệm vụ bảo vệ. Thời gian oanh kích sẽ kéo dài khoảng 30 phút.
Mỗi phi đoàn được trang bị 24 chiến đấu cơ F.5 và trên mỗi chiếc F5 được trang bị thêm 3 bình xăng phụ.
Để hỗ trợ cho kế hoạch, hàng ngày các máy bay thám thính RF5 của không lực VNCH có nhiệm vụ bay và chụp ảnh toàn bộ Hoàng Sa.
Vào phút cuối, chiến đấu cơ F5 đã không được lệnh xuất kích - Ảnh minh họa 
Từ những bức không ảnh này, bộ phận phân tích thuộc lực lượng không quân sẽ theo dõi sự di chuyển, thay đổi đội hình của các tàu chiến Trung Quốc. 
Ngoài ra, nó còn cung cấp cho các phi công chuẩn bị tham chiến biết được cách bố trí đội hình phòng thủ để từ đó có cách đối phó thích hợp.
Và theo những bức ảnh không thám ấy, thời điểm ngày 20.1.1974, tại khu vực quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc có tổng cộng 43 tàu chiến lớn nhỏ. 
Sở dĩ lực lượng không quân VNCH tin tưởng vào kế hoạch oanh tạc và tái chiếm Hoàng Sa là do thời điểm đó, chiến đấu cơ F5 có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. 
Mặc dù khoảng cách đường bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa tương đương khoảng cách từ đảo Hải Nam đến Hoàng Sa nhưng F5 được xem là ít tốn nhiên liệu hơn Mig 21 của Trung Quốc.
Giờ "G" đã không điểm
Khi mọi kế hoạch được bên không quân chuẩn bị đầy đủ thì bất ngờ Tổng thống Thiệu ra lệnh hủy kế hoạch oanh kích tái chiếm Hoàng Sa.
Sau này, một số người cho rằng, nguyên nhân xuất phát từ sự cố vấn của Đại tá Hà Văn Ngạc, người trức tiếp chỉ huy trận đánh vào ngày 19.1.1974.
Khi đó, Đại tá Ngạc tin rằng "một cuộc phản kích tái chiếm sẽ thất bại ngoại trừ đó là một chiến thuật thí quân nằm trong một chiến lược cao hơn". 
Được biết, các tàu chiến của VNCH lúc đó chỉ là các tuần dương hạm cũ (WHEC)  được Lực lượng tuần duyên Mỹ (US Coast Guard) chuyển giao cho.
Do thiết kế nên các tàu này thích hợp cho công tác tuần tiễu hơn là chiến đấu, bởi nó vừa chậm chạp vừa nặng nề nên khó chống trả lại với các chiến hạm chiến đấu tối tân hơn. 
Loại tàu này cũng chỉ được trang bị một hải pháo 127 ly, còn vị trí đặt 2 khẩu hải pháo 40 ly đã được Hải quân Việt Nam Cộng hòa tháo dỡ làm bãi đáp trực thăng.
Theo nhiều người, nhận định của Đại tá Ngạc có cơ sở, bởi nhiệm vụ giữ đảo thuộc về Hải quân.
Không thể phản ứng bằng "súng đạn", Tổng thống Thiệu chuyển hướng sang lĩnh vực ngoại giao.
Liên tiếp các ngày 20, 21, 22.01.1974, Bộ Ngoại giao lẫn Tổng thống VNCH đã liên tục thông báo tình hình quần đảo Hoàng Sa cho Đại sứ Hoa kỳ tại Sài Gòn và Tổng thống Hoa kỳ Richard Nixon biết.
Thế nhưng, để đáp lại những thông báo ấy, Đại sứ quán lẫn Chính phủ Hoa kỳ đều im lặng.
Không những thế, Hoa kỳ còn ra lệnh cho hạm đội 7 ở Thái Bình Dương tránh xa quần đảo Hoàng Sa.
Chính sự "im lặng" của Mỹ là nguyên nhân trực tiếp khiến Trung Quốc tiếp tục xâm chiếm Hoàng Sa của Việt Nam.
Như vậy, có thể thấy rằng ngoài nguyên nhân khách quan chủ yếu là tham vọng bá quyền của Trung Quốc ra, về phía Việt Nam Cộng hòa vào thời điểm ấy đã không đủ năng lực quân sự lẫn ngoại giao để tái chiếm quần đảo Hoàng Sa.
Nguyễn Minh - Vũ Kiều (tổng hợp)