Sunday, September 1, 2013

ĐÂU LÀ SỰ THẬT?

Đề nghị làm sáng tỏ vụ việc: Hồ Chí Minh là người Việt Nam hay Đài Loan


Gần đây, dư luận sôi động về việc Đài Loan xuất bản cuốn sách “Tìm hiểu về cuộc đời Hồ Chí Minh.” ( Hồ Chí Minh sinh bình khảo), do nhà xuất bản Bạch Tượng Văn Hóa ấn hành ngày 01-11-2008.Tác giả là Hồ Tuấn Hùng, giáo sư đã từng dạy học hơn 30 năm, tốt nghiệp trường Đại Học Quốc Lập Đài Loan, khoa lịch sử. Người dịch ra tiếng Việt Nam là Thái Văn (không biết là người Việt Nam hay Trung Quốc).
Sách chủ yếu nói về Nguyễn Ái Quốc. Sau vụ án Hương Cảng,1931 cụ sang Liên xô nhưng bị lao phổi và chết ở Liên xô từ năm 1932. Sau đó, Quốc tế Cộng sản phân công Hồ Tập Chương, người Đài Loan cùng hoạt động với cụ Nguyễn Ái Quốc thay cụ Nguyễn Ái Quốc làm cách mạng ở Việt Nam. Ông Hồ Tập Chương lấy tên là Hồ Chí Minh. Tác giả Hồ Tuấn Hùng là người Đài Loan và là cháu ruột của Hồ Tập Chương. Sách gồm 6 chương, dày 342 trang khổ 15×21 cm .
Nguyên văn lời tựa như sau:
“Thay lời tựa
Màn đầu bóc gỡ tấm mạng che huyền bí
Tấm mạng huyền bí che mặt Hồ Chí Minh”
Các nhà lãnh đạo nổi tiếng trong lịch sử hiện đại, ít nhiều đều có những bí mật riêng giống như tấm mạng che mặt. Những bí mật này rất ít khi được công khai minh bạch, trong đó, Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của Việt Nam là một trường hợp điển hình. Cho dù hiện giờ đã là thiên niên kỷ thứ hai, kỹ thuật truyền thông hiện đại có mặt khắp nơi, Hồ
Hai người này là một?
hcm
Chí Minh yên nghỉ trong quan tài thủy tinh tại lăng Ba Đình Hà Nội đã bốn mươi năm, nhưng hoàn cảnh gia đình, lịch trình học tập, khả năng ngôn ngữ, lý tưởng động cơ cách mạng, thực trạng hôn nhân, quá trình hoạt động tại Quốc tế cộng sản, thậm chỉ ngày sinh và ngày mất cũng vẫn còn tồn tại rất nhiều nghi vấn. Mặc cho các tác giả viết truyện ký tìm mọi cách lắp ghép tư liệu, cuối cùng, vẫn không thể nào dựng lại được và trình bày một cách thuyết phục chân dung lịch sử Hồ Chí Minh.
Nhà sử học Việt Nam, giáo sư Nguyễn Thế Anh, tiến sĩ văn học và nhân văn Đại học Sorbonne, Paris, Pháp, từng là giám đôc Đại học Thuận Hóa, chủ nhiệm khoa Văn Sử Đại học Sài Gòn, giáo sư thỉnh giảng Đại học Harvard Hoa Kỳ, chủ nhiệm khoa Lịch sử văn hóa Đông Dương, Đại học Sorbonne, đã dày công nghiên cứu về Hồ Chí Minh và có những kiến giải độc đáo. Trong tác phẩm “Con đường chính trị của Hồ Chí Minh”, Nguyễn giáo sư từng nói: “Cho dù không thiếu những tác phẩm viết về Hồ Chí Minh, cho dù ông đã mất từ lâu, nhưng vẫn còn tồn tại khá nhiều nghi vấn và mâu thuẫn trong cuộc đời nhân vật chính trị này. Do ông có thói quen che giấu quá khứ và những hoạt động của mình, cố ý xóa sạch các dấu vết, vì thế, mọi cố gắng tìm hiểu những chi tiết chân thực trong cuộc đời hoạt động của ông chẳng khác gì đứng trong đám mây mù vần vụ mà thưởng hoa vậy. Vì thế, ta chỉ có thể suy đoán mà thôi. Hồ Chí Minh có đến 3 cái tên giả, tự mình kể chuyện về mình đầy tràn sắc thái thần bí với nhiều sự hàm hồ, vô vàn tình tiết nghi hoặc, chẳng những không thể phân tích rõ ràng, mà còn bỗng nhiên tự tâng bốc mình với mục đích tuyên truyền cho sự nghiệp chính trị hoặc là một thánh nhân. Tuy vậy, các nhà sử học đã trường kỳ nghiên cứu, nỗ lực bóc gỡ dần lớp màn che phủ vốn làm chân dung Hồ Chí Mịnh bị biến dạng hoặc bị tô vẽ thái quá qua các tác phẩm truyện ký, chỉ có điều là vẫn chưa tìm ra điểm mấu chốt.
Nhà sử học Hoa Kỳ, giáo sư William J. Duiker, là một học giả trác việt chuyên nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Thời kỳ chiến tranh Việt Nam, William J. Duiker làm việc ở Đại sứ quán Hoa Kỳ, trước sau có gần ba mươi năm nghiên cứu về Hồ Chí Minh, đã được một số Quỹ và Hội học thuật Hoa Kỳ tài trợ. William J. Duiker cũng thông thạo các tiếng Anh, Pháp, Nga và Việt, đã vào đọc hầu hết các thư viện lớn nhỏ châu Á, châu Âu và châu Mỹ, trong đó có nhiều lần cùng đi với các quan chức chính quyền Việt Nam sưu tầm tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, và đã tìm được những tài liệu quý hiếm.
Vào năm 2000, William J. Duiker hoàn thành tác phẩm “Truyện Hồ Chí Minh”, xuất bản bằng tiếng Anh, dày 700 trang, tuy nhiên chính ông cũng phải thừa nhận, không thể nào tìm được những tài liệu ở cơ quan đầu não, bởi luôn có sự ngăn cản việc tìm ra sự thật. William J. Duiker nói: “Những tài liệu nằm ở Trung tâm Lưu trữ Hà Nội đều không cho người Việt Nam và người nước ngoài thâm nhập tìm hiểu, nghiên cứu. Cũng như vậy, ta không thể tìm những tài liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh ở Bắc Kinh và Mạc Tư Khoa. Nhà cầm quyền Trung Quốc và Liên Xô hầu như ít khi để lộ những thông tin thuộc loại này.”
Học giả Anh Quốc Sophie Quinn- Judge cũng là một chuyên gia nghiên cứu về Hồ Chí Minh, từng được Quỹ Mike và Viện nghiên cứu Trung ương Đại học London tài trợ. Bà đã đến Việt Nam, các nước Đông Nam Á và Nga Xô, tìm được những chứng cứ mới nhất trong hồ sơ của Quốc tế cộng sản và tình báo Pháp làm cơ sở cho công trình nghiên cứu về Hồ Chí Minh. Năm 2002, Sophie Quinn – Judge đã xuất bản tại London cuốn sách “Những năm tháng mất tích của Hồ Chí Minh, 1919-1941″. Trong lời đầu, tác giả nói rõ, lấy “truyền kỳ về con người hai mặt” làm tiêu đề, bởi vì, đối với Hồ Chí Minh còn rất nhiều điều nghi vấn, đặc biệt tiêu đề chương sáu, dùng sự kiện “Chết ở Hương Cảng, mai táng ở Mạc Tư Khoa”, coi đó là câu đố về chuyện sinh tử của Hồ Chí Minh, đồng thời đặt dấu hỏi nghi ngờ.
Trong phần giới thiệu tóm tắt ở trang 6, Sophie Quinn-Judge viết: “Hồ Chí Minh tìm mọi cách để giấu đi quá khứ của mình. Nhiều năm qua, những thứ mà ông đã cung cấp toàn là loại “dật sự”, thường là mâu thuẫn nhau, không mấy liên quan đến cuộc đời thực. Đầu tiên là tập tự truyện xuất bản vào năm 1949 tại Trung Quốc, năm 1950, được xuất bản bằng tiếng Pháp tại Paris, mấy năm sau lại xuất bản tại Việt Nam với nhan đề “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”. Qua cuốn sách, người đọc biết rất rõ là, tất cả cái gọi là sự thật ấy đều do Hồ Chí Minh bịa đặt. (Tác giả nhận xét, “Truyện Hồ Chí Minh”, bút danh Trần Dân Tiên, bản Trung văn, “Ba Nguyên thư ốc” Thượng Hải xuất bản năm 1949. Năm 1958, cuốn sách đổi tên là “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch”, xuất bản bằng tiếng Việt tại Hà Nội).
Năm 1962, nhà Việt Nam học Bernard Fall phỏng vấn Hồ Chí Minh, có hỏi đến những chi tiết mập mờ trong cuộc đời của ông, Hồ Chí Minh trả lời: “Các ông già khi vui vẻ thường tự tạo ra cho mình một chút thần bí. Tôi cũng bắt chước người xưa làm ra vẻ thần bí một chút, chắc ngài có thể hiểu được”. Việc này chẳng biết Bernard Fall có hiểu được hay không, nhưng William J.Duiker trong cuốn sách nổi tiếng “Truyện Hồ Chí Minh” đã viết: “Không khí thần bí bao bọc xung quanh Hồ Chí Minh luôn luôn được duy trì, chí ít ra là trong các tác phẩm tự truyện như thế này”.
Hồ Chí Minh có phải đến từ Đài Loan?
Vì sao cho đến lúc qua đời Hồ Chí Minh vẫn không tự nói ra những bí mật của mình? Chấp nhận nằm trong quan tài thủy tinh để lại cho người đời biết bao câu hỏi nghi ngờ? Vì sao các tư liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh trong hồ sơ lưu trữ tại các nước Pháp, Anh Quốc (bao gồm cả Hương Cảng), Mỹ… đến nay từng bước đã được giải mật, vậy mà nhà nước Việt Nam, Trung Quốc và Nga vẫn xếp vào loại tuyệt mật, cất giữ trong hòm kín? Các chuyên gia, học giả nghiên cứu về Hồ Chí Minh nhận thấy rất rõ, trong hồ sơ giản lược về cuộc đời ông, trước sau đều phát sinh mâu thuẫn, nhưng không biết làm cách nào tìm được cách giải thích hợp lý. Hàng loạt những sự kiện nghi vấn trên dường như tạo hứng thú cho người ta bỏ nhiều thời gian, công sức tìm tòi tư liệu để viết về thân thế Hồ Chí Minh. Việc này cũng giải thích vì sao, giới lãnh đạo cao cấp Việt cộng, Trung cộng và Quốc tế cộng sản, phàm là các sử liệu có liên quan đến Hồ Chí Minh, đều nhất loạt được che giấu, tô vẽ hoặc ngụy tạo.
Vì ông Hồ Chí Minh cố tình che giấu tung tích của mình đã đưa đến nghi vấn ông có phải Hồ Tập Chương người Đài Loan hay không.
Vì ông Hồ Chí Minh cố tình che giấu tung tích của mình đã đưa đến nghi vấn ông có phải Hồ Tập Chương người Đài Loan hay không.
Nhiều năm trước, một người bạn thương gia Đài Loan đã nói với tôi: “Hồ Chí Minh là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La, ông có biết không?”. Tin đồn về Hồ Chí Minh thuộc Hồ tộc ở Miêu Lật, Đồng La đã hai lần tôi trực tiếp nghe được. Thông tin này làm tôi vừa nghi ngờ vừa phấn khởi. Đây phải chăng là dự báo về thân phận Hồ Chí Minh sắp được giải mật? Có một người họ Hồ, nhân viên Đảng vụ Quốc dân đảng, thuộc dân tộc Khách Gia Quảng Đông, sinh vào năm Dân Quốc thứ năm mươi, trong dịp về tế tổ họ Hồ ở Miêu Lật có hỏi thân phụ tôi: “Hồ Chí Minh với ông là như thế nào mà có tin đồn ông ta cũng là người Miêu Lật?” Một người nữa là thày thuốc họ Hà kể lại, năm 1945, ông đã theo quân đội Quốc dân đảng đến Hà Nội có nghe một người Hoa làm nghề buôn thịt lợn nói rằng, Hồ Chí Minh là người đến từ Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan. Người anh họ của tôi cũng bảo: “Năm Dân Quốc thứ sáu mươi, anh cùng ông chú đến Bộ Ngoại giao Đài Bắc hỏi thăm tung tích Hồ Chí Minh (Hồ Tập Chương) cùng những vấn đề liên quan đến thân phận ông, nhưng không có được câu trả lời cụ thể”. Thời gian gần đây tôi đã hai lần được nghe từ miệng một thương nhân Đài Loan ở Việt Nam nói rõ, Hồ Chí Minh là người Miêu Lật, Đồng La, nhưng không thể kiểm chứng được nguồn gốc thông tin, bởi không một lãnh đạo chóp bu nào của Việt Nam chịu tiết lộ bí mật.
Từ Việt Nam, tin đồn Hồ Chí Minh là người thuộc họ Hồ sinh quán ở Miêu Lật, Đồng La truyền về Đài Loan, khiến tâm trạng tôi vốn dĩ trầm lặng bỗng nhiên như cháy bùng lên. Hồ Chí Minh, Chủ tịch nước Việt Nam là người Đài Loan! Như vậy, lời khẩu truyền được lưu trong ký ức gia tộc họ Hồ ở Miêu lật, Đồng La thực ra chẳng phải là bí mật của Ông Trời, vấn đề là, chưa tìm được chứng cứ đủ sức thuyết phục mà thôi. Trước đây ít năm, gia tộc có phát hành nội bộ cuốn sách “Giải nghĩa ‘Nhật ký trong tù’ của Hồ Chí Minh”. Qua sơ bộ nghiên cứu tư liệu thì Hồ Chí Minh đúng là người họ Hồ ở Miêu Lật, Đồng La. Đại thể là, không có lửa làm sao có khói, chỉ tiếc sức lực có hạn, không tìm được chứng cứ để liên kết các sự kiện. Mấy năm nay, các loại sách báo, tranh ảnh lưu hành rất tiện lợi. Mạng Internet phát triển nhanh chưa từng thấy. Các sử liệu liên quan đến Hồ Chí Minh lần lượt xuất hiện. Tin đồn Hồ Chí Minh là người Đài Loan từng bước được lịch sử xác nhận qua các phương pháp giám định khoa học. Vì thế, để tìm hiểu xem Hồ Chí Minh có phải là người Miêu Lật, Đồng La, Đài Loan hay không, cần phải khẳng định hai sự kiện sau:
1 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1890 – 1932) là Nguyễn Ái Quốc của Việt Nam.
2 – Hồ Chí Minh thời kỳ (1933 – 1969) là Hồ Tập Chương của Đài Loan.
Nói cách khác, truyền kỳ về Chủ tịch nước Việt nam Hồ Chí Minh, nửa đời trước là lãnh tụ cộng sản Việt Nam Nguyễn Ái Quốc, nửa đời sau là nhân sĩ Quốc tế cộng sản Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan. Hai người cùng có quá trình sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cùng đạt được những thành tựu trong cuộc đời hoạt động.
Nguyễn Ái Quốc là lãnh tụ sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, cũng là đại biểu Quốc tế cộng sản. Do đảng viên cộng sản Pháp Joseph Ducroix, bí thư Công hội Thái Bình Dương, Quốc tế cộng sản bị bắt tại Singapore, sau khi truy vấn, cảnh sát đã bắt được hai phái viên của Cục Viễn Đông Quốc tế cộng sản là Hilaire Noulens ở Thượng Hải và Nguyễn Ái Quốc ở Hương Cảng. Không may, vào mùa thu năm 1932, Nguyễn Ái Quốc trên đường trốn chạy từ Hương Cảng đến Thượng Hải bị mắc bệnh lao phổi qua đời.
Mùa hè năm 1929, Hồ Tập Chương từ Đài Loan đến Thượng Hải, được Cục Viễn Đông phái đến làm việc tại “Liên minh mậu dịch Thái Bình Dương”. Cũng bởi có liên quan đến vụ án Hilaire Noulens, ông phải trốn đến Quảng Châu rồi lại chạy sang Quảng Tây, Xiêm La, cuối cùng về Hạ Môn. Đầu năm 1933, Hồ Tập Chương từ Hạ Môn đến Thượng Hải để đi Mạc Tư Khoa. Lúc này, chủ quản bộ phận Việt Nam Quốc tế cộng sản là Vera Vasilieva đặt kế hoạch cho Hồ Tập Chương 5 năm học tập cải tạo để biến thành Nguyễn Ái Quốc, nhằm phủ định sự thật Nguyễn Ái Quốc đã chết, thay thế ông này, bước lên vũ đài lịch sử, diễn vở kịch truyền kỳ Hồ Chí Minh “thật giả kiếp người”.
Hồ Chí Minh nửa đời về sau (1933 – 1969) là Hồ Tập Chương, người Đài Loan. Tuy nhiên, sự kiện động trời này chưa từng được lịch sử biết đến, khiến các cho các chuyên gia nghiên cứu hoặc độc giả có hứng thú với nhân vật Hồ Chí Minh vừa sững sờ vừa nghi vấn. Các chứng cứ của luận điểm này? Độ tin cậy của thông tin như thế nào? Nguồn gốc của tư liệu ở đâu? Mối quan hệ nhân quả về thời gian, không gian và tính logic của vấn đề?
Về trình tự làm cuốn sách, trước hết là trình bày việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam và chết bởi bệnh lao phổi vào mùa thu năm 1932. Phần tiếp theo sẽ chỉ ra, Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người, cuối cùng nói đến nửa phần đời sau của Hồ Chí Minh chính là Hồ Tập Chương đến Từ Đài Loan. Nội dung cuốn sách này hoàn toàn đảm bảo tính khách quan và tính hợp lý với mục đích chỉ để làm rõ một tiên đề giả thiết Hồ Chí Minh và Nguyễn Ái Quốc không phải là một người. Trong quá trình khảo cứu, tôi đã tìm hiểu, so sánh, đối chiếu cẩn trọng các tư liệu liên quan đến cuộc đời Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh, muốn làm một việc công bằng là trả lại sự thực vốn có cho lịch sử, đồng thời để tìm ra lời giải câu đố “Sự bí ẩn trong chuyện sinh tử của Nguyễn Ái Quốc”. Từ sự bí ẩn về thân phận Hồ Chí Minh, tôi đề xuất 5 luận chứng đồng thời cũng là nhan đề của 5 thiên trong “Tìm hiểu cuộc đời Hồ Chí Minh” như sau:
1 – “Hài kịch tráo rồng đổi phượng” (Nguyễn Ái Quốc chết mà sống lại).
2- “Ve sầu thoát xác, thật giả kiếp người” (Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh cùng lên vũ đài lịch sử).
3 -”Cuộc sống lưu vong phiêu bạt” (Hồ Chí Minh ở Liên Xô và Trung Quốc).
4- “Khúc bi ca về tình yêu và hôn nhân” (Sự thật về tình yêu, hôn nhân của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).
5 – “Nhật ký trong tù và Di chúc” (Làm rõ khả năng Hán văn của Nguyễn Ái Quốc và Hồ Chí Minh).
Từ cách nhìn lịch sử ở những góc độ khác nhau, lật lại sự kiện Nguyễn Ái Quốc chết bệnh vào năm 1932, và Hồ Chí Minh của năm 1933 là Hồ Tập Chương đến từ Đài Loan tiếp tục tiếp tục đăng đài thực hiện nhiệm vụ Quốc tế cộng sản giao phó, rất mong được các chuyên gia học giả cùng bạn đọc chỉ giáo.
Thời đại internet hiện đại, nên sách được loan tải trên mạng rất rộng rãi .Nhiều người đến trao đổi với tôi, hầu hết là những người từng trực tiếp tham gia kháng chiến, là bộ đội, là cán bộ tuyên huấn …Một số người phản đối, cho cuốn sách là bịa đặt, “đổi trắng,thay đen.” .Một số người thì bảo chuyện này cũng đã được nghe từ lâu. Và tin lời tác giả. Họ dẫn chứng: năm 1957, cụ Hồ Chí Minh về thăm quê ở xã Kim Liên,huyện Nam Đàn,tỉnh Nghệ An mà không ra thắp hương mộ thân mẫu là cụ Hoàng Thị Loan. Năm 1945, khi bắt đầu làm Chủ tịch nước, bà chị là Nguyễn Thị Thanh ở quê ra thăm, cụ Hồ tránh mặt, không dám gặp, chỉ cử 2 cán bộ cao cấp tiếp.
Bản thân tôi rất kính trọng Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự hào đã 45 năm là “ Lính Bác Hồ.”, “Bộ đội Bác Hồ.” Khi làm Tổng biên tập báo Phòng Không-Không Quân, ba lần được tiếp xúc với Chủ Tịch khi Chủ Tịch thăm Quân chủng và trận địa tên lửa, viết bài về Chủ Tịch. Nhiều lần về thăm quê Chủ Tịch và thắp hương lễ mộ cụ Hoàng Thị Loan, vào Sài Gòn đến Cảng Nhà Rồng thăm nơi “Bác Hồ đi tìm đường cứu nước.”. Nhiều lần vào lăng viếng Bác .
Kính mong nhà cầm quyền, Đảng và Nhà nước Việt Nam cử giới khoa học lịch sử làm rõ sự thật vụ việc này. Nếu tác gỉả bịa đặt thì đưa ra tòa án quốc tế xét xử, làm rõ sự thật.
Ngày 25/8/2013
© Phạm Quế Dương
© Đàn Chim Việt



Bí ẩn việc vua Quang Trung cầu hôn công chúa Mãn Thanh

Bất ngờ với tờ "Biểu" cầu hôn!?
Một số tài liệu lịch sử xác nhận rằng, vua Quang Trung đã sai sứ thần tới triều Mãn Thanh cầu hôn công chúa con gái của hoàng đế Càn Long. Sách Hoàng Lê nhất thống chí có chép, "vua Quang Trung sau khi quyết định đánh Trung Quốc, bèn sai bầy tôi là Chiêu viễn Vũ Văn Dũng sang nhà Thanh dâng biểu cầu hôn. Cũng liên quan đến câu chuyện này, sách Đại Nam chính biên liệt truyện ghi: "Năm Nhâm Tý (1792), vua Quang Trung sai làm biểu văn sang nhà Thanh cầu hôn để dò ý vua Thanh và cũng để mượn cớ gây mối binh đao, nhưng vua bị bệnh không đi được".
Đa số sử liệu về triều Tây Sơn do chính sử nhà Nguyễn chép cần xem xét một cách thận trọng. Bởi công tác biên soạn sử về giai đoạn này có phần sơ sài.
Trước câu hỏi, có hay không việc vua Quang Trung xin hỏi cuới công chúa nhà Thanh và tham vọng đằng sau là gì, PV báo ĐS&PL đã quyết định đi tìm câu trả lời. Chúng tôi đã lần theo những thông tin liên quan đến vương triều Tây Sơn và thu thập được nhiều thông tin đáng quý.
Rất may mắn, chính thông tin ít ỏi ban đầu, khiến chúng tôi  tìm về  được tận quê hương của Ngô Thì Nhậm một vị quân sư tài ba và quê hương của Phan Huy Ích nhà ngoại giao nổi danh của vương triều Tây Sơn. Cuộc hành trình tìm kiếm tư liệu cuối cùng đã đem đến cho chúng tôi nhiều thông tin quý giá.  Chính những thông tin này đã gợi mở ra nhiều góc khuất lịch sử mà bấy lâu vẫn còn là bí ẩn. Theo tìm hiểu của chúng tôi, đến thời điểm này nhiều dòng họ vẫn lưu giữ cẩn thận nguồn tư liệu có liên quan đến vương triều Tây Sơn.
Vua Quang Trung.
Nguồn tư liệu này phản ánh tương đối chân thật và sinh động về một thời kỳ lịch sử oai hùng của dân tộc. Trong  các tư liệu mà PV báo ĐS&PL thu thập được, thì tư liệu từ dòng họ Ngô Thì tại làng Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, Hà Nội - dòng họ sinh ra vị quân sư tài danh Ngô Thì Nhậm và dòng họ Phan Huy, Sài Sơn, Quốc Oai, Hà Nội - dòng họ sinh ra nhà ngoại giao đa tài Phan Huy Ích có giá trị hơn hết. Chính nguồn tư liệu trên đã giúp chúng tôi bước đầu vén lên bức màn bí ẩn xung quanh câu chuyện bang giao giữa vương triều Tây Sơn và triều Mãn Thanh liên quan đến việc xin làm phò mã của vua Quang Trung. 
Và những bí ẩn chưa có lời giải
Theo đó, câu chuyện vua Quang Trung có ý định cưới công chúa con vua Càn Long là có cơ sở. Điều này được chứng minh bằng  tờ "Biểu" cầu hôn công chúa gửi cho triều đình Mãn Thanh do đích thân Ngô Thì Nhậm chắp bút. Bản viết này được ghi chép cẩn thận trong tập "Bang Giao Hảo Thoại" do chính Ngô Thị Nhậm biên soạn. Theo tư liệu chúng tôi tiếp cận được, tờ "Biểu" cầu hôn công chúa nhà Thanh do đích thân Ngô Thì Nhậm viết bằng  lối viết sắc sảo, ý tứ sâu xa, đã chuyển tải thành công ý định được xem "dám ăn gan trời" của vua Quang Trung một cách nhẹ nhàng tới vua Càn Long và triều đình Mãn Thanh.
Trong tờ biểu này có đoạn viết: "Ngước thấy: Thanh triều gây nền từ núi Băng Thạch, dựng nghiệp vua, con cháu ức muôn đời phồn thịnh. Từ trước đến nay, chế độ nhà trời, công chúa gả xuống, tất phải lấy người tôn quý mới chọn đẹp duyên, không có lệ rộng ra đến các bề tôi ở ngoài...
Trong tờ "Biểu" này, Ngô Thì Nhậm đã khéo léo dùng câu văn có ẩn ý sâu để truyền tải ý định xin được làm phò mã của vua Quang Trung. Cuối tờ "Biểu", Ngô Thì Nhậm viết cho thấy, việc vua Quang Trung muốn lấy con gái của Càn Long có kế hoạch rõ ràng: "Nay dám không tự lượng, mạo muội giãi bày lòng thành. Kính cẩn sai kẻ bội thần sang chầu hầu. Sau khi tâu bày rồi, sẽ vì thần giãi bày lòng thực". Bản thân tờ "Biểu" mới chuyển tải ý định ban đầu, còn việc cụ thể như thế nào sẽ đích thân cử sứ bộ sang trực tiếp tấu xin. Tờ biểu đã chứng minh, ý định cưới con vua Càn Long của Hoàng đế Quang Trung là có căn cứ, và bản thân của kế hoạch này được tính toán kỹ lưỡng. 
Khi biết được tờ biểu này trong tập "Bang Giao Hảo Thoại" của Ngô Thì Nhậm, chúng tôi càng có cơ sở để khẳng định, có chuyện vua Quang Trung có ý định làm phò mã nhà Thanh là đúng. Cùng với tờ "Biểu"  táo bạo này, và việc chắp nối sắc chỉ sai Vũ Quốc Công Văn Dũng đi sứ để thay mình bàn việc xin cưới công chúa thì sự thật việc cưới xin cũng chỉ là cái cớ. Đằng sau của ý định hỏi cưới này ẩn chứa một tham vọng lớn của vua Quang Trung.
Việc này còn được biểu thị một cách rõ ràng trong sắc chỉ sai Vũ Quốc Công Văn Dũng, chuyển tới vua nhà Thanh. Sắc chỉ viết "Sắc truyền cho Hải Dương Chiêu Viễn đô đốc tướng quân dực vận công thần Vũ Quốc Công được gia phong chức chánh sứ, đi sứ nước Thanh, được toàn quyền trong việc đối đáp... vừa thăm dò ý (vua Càn Long) và cầu hôn một vị công chúa để chọc tức! Phải thận trọng đấy! Hình thế trong việc dụng binh đều ở trong chuyến đi này. Ngày khác làm tiên phong (đi đánh nước Thanh) chính là khanh đấy". Sắc chỉ này viết ngày 15 tháng 4 năm 1792.
Cái chết bất ngờ của vua Quang Trung
Như vậy, thực chất của việc xin cưới công chúa con vua Càn Long chỉ là cái cớ. Chuyến đi sứ này, vua Quang Trung cử Văn Dũng đi, nhằm cố ý dò la xem phản ứng của Càn Long như thế nào. Có ý cho rằng, đây là một kế hoạch khởi đầu cho ý định xuất binh đánh Mãn Thanh của người anh hùng "áo vải cờ đào".
Cũng liên quan đến sự kiện đi sứ của Vũ Văn Dũng hiện có hai luồng ý kiến khác nhau. Một luồng ý kiến cho rằng, sau khi sứ thần Vũ Văn Dũng dâng tấu xin Càn Long ban đất và cưới công chúa, vua nhà Thanh đã chuẩn y lời cầu hôn của Hoàng đế Quang Trung, sai bộ Lễ sửa soạn nghi thức cho việc cưới gả, định ngày cho công chúa sang nước Nam. Còn việc xin lại hai tỉnh, Càn Long ngoài mặt đồng ý, nhưng thực tế chỉ muốn trao cho Quảng Tây làm đất đóng đô, coi như "của hồi môn" cho con gái.
Luồng ý kiến khác lại cho rằng, việc chuẩn bị cho đoàn đi sứ nhà Thanh do đích thân Ngô Thì Nhậm  đứng ra lo liệu. Tuy nhiên, trong khi mọi việc đang được chuẩn bị kỹ lưỡng thì tin dữ đến, giờ tý ngày 24 tháng 7 nhuận, năm 1792, Hoàng đế  Quang Trung băng hà. Điều này đồng nghĩa với ý định cầu hôn,  hay lấy cớ để khởi binh đánh Thanh mãi chỉ là ý định của người anh hùng "áo vải cờ đào".                           
Mọi việc chỉ nằm trong dự liệu
Trong cuốn sách Danh nhân văn hoá Ngô Thì Nhậm, giáo sư sử học Lê  Văn Lan thừa nhận tờ "Biểu" cầu hôn do đích thân Ngô Thì Nhậm viết  thay vua Quang Trung, tờ biểu này được in trong tập sách "Bang Giao Hải Thoại". Vị giáo sư này cũng đề cập đến việc, vua Quang Trung có nhiều tham vọng, trong đó ông lấy sắc chỉ sai Vũ Quốc Công Văn Dũng đi sứ nhà Thanh của vua Quang Trung làm minh chứng. Quan điểm của vị giáo sư này cho rằng, việc cầu hôn và những ẩn ý khác nằm trong dự tính của vua Quang Trung và triều thần. Trên thực tế vẫn chưa có một đoàn sứ nào của nước ta đi sang đặt vấn đề cụ thể với triều đình Mãn Thanh về việc này. Việc Quang Trung đột ngột băng hà phá vỡ hoàn toàn kế hoạch này.
 Trinh Phúc - Dương Thu

Nghi án chiếc áo bào tẩm thuốc độc hại chết vua

Thursday, August 29, 2013

Những bức ảnh quý của Sài Gòn những ngày xưa ấy.



Monday, August 19, 2013

MỘT BÀI VIẾT GIÁ TRỊ

1973. Phản biện lại bài viết ĐÔI ĐIỀU VỚI TÁC GIẢ BÀI “VIẾT TRÊN GIƯỜNG BỊNH”

Posted by basamnews on August 20th, 2013
Trung Nghĩa
 Phản hồi cho ông/bà Trọng Đức, tác giả của bài viết được đăng trên báo Quân Đội Nhân Dân điện tử ra ngày chủ nhật 18/08/2013 trong mục chính luận với thông cáo“Làm thất bại chiến lược diễn biến hòa bình”. *
 Tôi đã nhiều năm không đọc báo QĐND. Hôm nay thông qua diễn đàn mạng tôi được biết đến bài báo của tác giả Trọng Đức (có lẽ là một bút danh) mà khi đọc bài viết tôi không khỏi bức xúc. Tôi cũng tự đặt ra một bút danh cho mình để phản hồi cho bài viết này vì bản tính tôi là nhút nhát, sợ bị “nổi tiếng”. Tác giả bàn về những luận chứng nhằm phủ nhận người khác nhưng có vẻ như tác giả quá yếu kém khi đưa ra một ví dụ lệch lạc, không hiểu những luận cứ chủ thuyết của Marx, giải thích một cách lèo lái, gượng ép để phủ nhận những ý kiến của ông Lê Hiếu Đằng.
Tôi chỉ xin đi vào từng mảng lập luận mà tác giả Trọng Đức đề cập:
Thứ nhất: Tác giả Trọng Đức nhắc tới một chi tiết “ông Lê Hiếu Đằng có nhắc đến “một kỷ niệm khó quên”. Đó là việc khi ông đang bị chính quyền Thừa Thiên – Huế (dưới chế độ cũ) “cầm tù”, nhờ có lá đơn của bố ông nên ông được “cho ra tù” để đi thi”.
Ông Đằng cho rằng “Tôi không biết với chế độ được gọi là “ưu việt” hiện nay có người tù nào đã được cho ra đi thi như chúng tôi hay không?”
Để rồi sau đó Trọng Đức phủ nhận cái ý kiến của một người từng sống ở hai chế độ, từng đấu tranh để xây dựng nên nền móng chính quyền của nhà nước XHCN này bằng cách nêu ra một trường hợp về chàng trai Phan Hợi (sinh năm 1983, quê ở Sơn Quang, Hương Sơn, Hà Tĩnh) thi đỗ đại học sau khi ra tù để phủ nhận ý kiến của ông Đằng rằng chế độ hiện nay không bằng chế độ Việt Nam Cộng hòa trước kia.
Nó buồn cười ở hai điểm:
- Ông Lê Hiếu Đằng khi đó là một tù nhân chính trị, còn chàng trai Phan Hợi lại là một tù nhân hình sự phạm tội vì ăn cắp và chiếm đoạt tài sản của cá nhân hay tổ chức khác có chủ ý.
- Ông Đằng được tha để đi thi đại học sau lá đơn của bố ông, tức là ông vẫn đang thời gian bị giam cầm. Còn Phan Hợi thì sau khi mãn hạn tù một thời gian, anh ta mới thi đại học. Khi mãn hạn tù thì việc anh Hợi có đầy đủ quyền của một công dân, anh ta thi đại học cũng không có gì là bất thường. Báo chí nêu trường hợp của anh Hợi có lẽ không ngoài mục đích để khuyến khích những người sai lầm tội lỗi đứng lên và làm lại cuộc đời.
Tác giả ngây thơ một cách đến ngờ nghệch khi đưa ra một ví dụ sai khác về bản chất của sự việc nhằm biện minh cho chủ kiến chế, độ chính trị hiện nay của Việt Nam cũng “ưu việt” khômg kém các chế độ chính trị các nước khác về tính nhân văn. Thế mà tác giả Trọng Đức lại quên ngay một vụ án nghiêm trọng, gây nên những cơn bão dư luận trong nước và thế giới: đó là vụ án hai em sinh viên Nguyễn Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha bị bắt khẩn cấp như một hình thức bố ráp/bắt cóc mà không hề có lệnh bắt trong lúc các em vẫn đang là sinh viên ngồi ghế giảng đường. Suốt cả hai phiên toà, từ thẩm phán tới chủ toạ không một ai nhớ ra rằng nếu các em bị giam cầm thì nó ảnh hưởng nghiêm trọng tới tương lai của các em, phải chăng họ đã quên?
Thứ hai: Tôi phải phì cười khi tác giả Trọng Đức viết “cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng gắn bó với nhau theo hình chóp xuôi. Không phải cơ sở hạ tầng có cái gì thì kiến trúc thượng tầng cũng phải có cái ấy”. Cách lập luận đến ngô nghê chẳng những yếu kém về cách diễn đạt mà nó sai một cách cơ bản về kiến thức.
Xin tác giả Trọng Đức hãy nhớ: khi bàn về vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng, Marx đã viết:
Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là hai mặt của đời sống xã hội, chúng thng nhất biện chứng với nhau, trong đó cơ sở hạ tầng đóng vai trò quyết định đối với kiến trúc thượng tầng.
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng trước hết thể hiện ở: mỗi cơ sở hạ tầng sẽ hình thành nên một kiến trúc thượng tầng tương ứng với nó.
Tất cả các yếu tố của kiến trúc thượng tầng như nhà nước, pháp quyền, triết học, tôn giáo, v.v. đều trực tiếp hay gián tiếp phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng, do cơ sở hạ tầng quyết định”
Vai trò quyết định của cơ sở hạ tầng đối với kiến trúc thượng tầng còn thể hiện ở chỗ: cơ sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn, kiến trúc thượng tầng cũng phải thay đổi theo.
Karl Marx đã khẳng định chắc chắn trong quyển tư bản “cơ sở kinh tế thay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng”.
Ngoài ra, tác giả Trọng Đức kém cỏi đến mức nực cười khi viết
Điều đó không có nghĩa (cũng chẳng có nước nào cho phép) nhất thiết phải tồn tại “Đảng của những người làm trong khu vực kinh tế nước ngoài” để bảo vệ quyền lợi cho thành phần kinh tế ấy.
Đâu phải có một đảng của những người làm trong khu vực kinh tế nước ngoài mới bảo vệ được quyền lợi của họ mà chỉ cần một tổ chức, một hiệp hội các doanh nghiệp nước ngoài cũng đã bảo vệ được họ nếu họ bị xâm phạm quyền lợi. Hoặc đơn giản hơn, họ sẽ tự bảo vệ mình bằng cách rút vốn, ngừng hoạt động kinh doanh tại Việt Nam nếu họ thấy họ không được bảo vệ bằng các luật doanh nghiệp có yếu tố nước ngoài. Điều đó đang diễn ra một cách ào ạt tại Việt Nam, nó càng khẳng định rõ hơn, những chính sách và những “lắt léo” khó nói thành luật về quản lý của Việt Nam có vấn đề.
Trong bản tuyên ngôn mà ông Hồ Chí Minh đã đọc “mọi người sinh ra có quyền bình đẳng” thế nhưng việc duy trì một đảng lãnh đạo độc tài suốt bao nhiêu năm qua đã vi phạm tuyên ngôn ấy.
Ông Trọng Đức viết “Quốc hội Việt Nam do toàn thể nhân dân Việt Nam bầu ra để thay mình thực hiện quyền lực Nhà nước. Do vậy, quyết định của Quốc hội thể hiện tâm tư, nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân”
Đây là điều sai sự thật. Người dân Việt Nam chưa hề có được quyền tự do dân chủ thực sự, dùng lá phiếu của mình để bầu người đại diện cho mình. Đơn cử là đại biểu quốc hội hiện nay với hơn 90 % là đảng viên đảng công sản, khi mà tổng số đảng viên của tổ chức này chỉ chiếm 1,3% dân số Việt Nam, như thế làm sao đại diện cho đại đa số người dân Việt Nam? Vì thế kết luận của tác giả “Việc duy trì Điều 4 Hiến pháp năm 1992 theo quyết định của Quốc hội, do vậy, cũng thể hiện đúng nguyện vọng của nhân dân” là hoàn toàn ngụy biện và sai trái, nó chỉ duy trì quyền lợi của đảng CS và những thành viên của đảng mà thôi.
Tác giả viết “Hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đang lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước vững mạnh, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đem lại những quyền lợi cơ bản cho quốc gia, dân tộc và toàn thể nhân dân lao động.” Đây là một luận điểm sai trái và ngụy biện tiếp theo.
Ngay chính quyền VN các cấp đều thừa nhận kinh tế VN đang khủng hoảng, nợ nước ngoài theo bác cáo của chính phủ VN là 56% GDP, còn theo báo cáo của thế giới là 102% GDP. Bình quân, một người dân Việt Nam từ già tới trẻ gánh một khoản nợ 860 USD do sự quản lý yếu kém của chính phủ gây ra. Chính ông thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã thừa nhận trong phiên họp diễn ra tại hội nghị Trung Ương 6 “Tôi còn 3 ngày nữa là tròn 51 năm tôi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo quản lý của Đảng. Trong 51 năm qua tôi không xin với Đảng cho tôi nhận chức vụ gì. Là một cán bộ Đảng viên, tôi đã nghiêm túc báo cáo với Bộ chính trị, Ban chấp hành trung ương Đảng. Tôi nghĩ Đảng hiểu tôi, tổ chức hiểu tôi. Đảng đã quyết định phân công tôi làm Thủ tướng Chính phủ, Quốc hội bỏ phiếu bầu làm Thủ tướng và tôi sẵn sàng chấp nhận. Gần cả cuộc đời theo Đảng, tôi không có chạy, tôi cũng không có xin, tôi cũng không có từ chối thoái thác nhiệm vụ gì mà Đảng và nhà nước phân công”
Rõ ràng quốc hội Việt Nam hiện nay thực tế không phải là ý chí và nguyện vọng của người dân mà là ý chí của Đảng. Bằng lý lẽ trên, Đảng phân công ông Dũng làm thủ tướng, rồi quốc hội của Đảng lại bầu cho ông ta. Đảng đã sai phạm trong việc lấn quyền hạn của nhà nước khi phân công người điều hành chính phủ, chứng tỏ đảng làm thay việc của nhà nước. Ông Thủ tướng Dũng là do đảng chỉ định làm thủ tướng để điều hành nền kinh tế, vì vậy việc suy thoái và lao dốc nền kinh tế hiện nay là lỗi của đảng cộng sản, hay nói một cách khác đi, Đảng quá yếu kém khi dùng sai người.
Thứ ba: tác giả Trọng Đức viết:
“Bất cứ sự kích động chiến tranh nào trong khi vẫn còn những lựa chọn giải pháp ngoại giao đều đi ngược lại truyền thống ngoại giao của cha ông, đi ngược lại lợi ích của đất nước, của dân tộc”
Mềm mỏng hoàn toàn khác với khiếp ngược. Chúng ta chỉ mềm mỏng khi biện pháp đó hiệu quả cho việc bảo vệ lãnh thổ biên giới hải đảo, còn một khi kẻ thù vẫn ngoan cố xâm lược thì dân tộc ta “quyết đánh”. Chẳng lẽ tác giả đã quên rồi sao tinh thần của hội nghị Diên Hồng?. Xn nhắc lại một chút về lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, từ chống quân Hán thời Hai Bà Trưng, tới chống quân Nguyên thời Trần hay chống quân Minh thời hậu Lê, đó có phải là kích động chiến tranh không thưa ông/bà Trọng Đức? Chính ông Hồ Chí Minh đã đọc lời hiệu triệu toàn quốc kháng chiến “chúng ta đã nhân nhương nhưng càng nhân nhượng thực dân pháp càng lần tới. Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước”.
Với thái độ hung hăng leo thang của Trung Quốc trong việc xâm chiếm biển đảo và đất liền của Việt Nam mà cả thế giới lên án, từ sự kiện cưỡng chiếm Hoàng Sa 1974; chiến tranh biên giới, 1979; cưỡng chiếm Trường Sa 1988, cắt cáp Tàu Bình Minh 2, Virking; xây lô cốt trên vùng biển đảo của Việt Nam……t hì đã gọi là một sự cố tình xâm lược chưa thưa ông Trọng Đức cùng tờ báo QĐND?
Sự “mềm dẻo” theo cái nghĩa như ông Trọng Đức nói, không hề hợp lòng dân, người dân chúng tôi liên tục xuống đường biểu tình chống Trung Quốc dù bị chính quyền đàn áp, khủng bố; bắt chấp bắt bớ tù đầy.
Cái “truyền thống ngoại giao” mà ông Trọng Đức nói ra nó qua xa lạ với truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.
Thứ tư: Tác giả cho rằng không cần tam quyền phân lập, nếu phủ nhận việc phải phân định rõ ràng tam quyền phân lập, thì nó không khác kiểu vừa đánh trống, vừa thổi còi. Tất cả mọi thứ quyền lực phải được kiểm soát để kiểm tra lẫn nhau.
Khi phủ nhận quyền được tự do, tác giả viết: “Thiết nghĩ, nếu nói cho đúng hơn phải là “con người khác con vật ở chỗ biết xác lập quyền tự do trong khuôn khổ có sự hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung của cộng đồng, của dân tộc và của nhân loại”.
Hãy thử nhìn lại xem hiện nay đã có sự hòa hợp giữa lợi ích của công đồng người Việt Nam, của dân tộc Việt Nam với lợi ích của  nhân loại hay chưa?
Ông Trọng Đức lại một lần nữa ngu ngơ và giả vờ đánh tráo khái niệm về tự do “con người khác con vật ở chỗ là có tự do”. Con người có xã hội, có văn hoá có pháp luật. Không ai đòi hỏi cái tự do của một con vật cả, điều đó có nghĩa đương nhiên tự do phải theo khuôn khổ pháp luật. Có lẽ ngoại trừ các nước như giống Việt Nam như Bắc Hàn hay Trung Quốc ra thì không có một quốc gia nào, con người có thể  bị tù đày bắt bớ đánh đập chỉ vì họ dám viết, dám nói những cái sai trái của chính quyền hay của các nhân vật chính trị bằng những điều như 258 bộ luật hình sự hay nghị định 72 của chính phủ sắp có hiệu lực. Ai đã xây dựng và ban hành những điều luật đó, chắc chắn không phải là ý chí của nhân dân Việt Nam.
 Xã hội loài người ngoài hệ thống luật pháp rằng buộc hành vi, còn có những nhân tố bất thành luật kiểm soát hành vi của con người như văn hóa làng xã, chuẩn mực đạo đức xã hội tham gia. Việc một con người bình thường tự nhiên cởi truồng đi rong ngoài phố, nếu xét về luật anh ta không vi phạm luật pháp vì anh ta không phải diễn viên, nhưng người bình thường không ai làm thế. Một kẻ cho vay lấy lời một người bệnh sắp chết, dù không phạm luật nhưng cũng sẽ bị công đồng lên án về đạo lý. Nói một cách khác con người còn khác con vật là họ biết xấu hổ, biết nhục khi chuẩn mực đạo đức/hành xử của họ bị dân chúng trong nước, bị cộng đồng quốc tế phản đối và tẩy chay.
Tất cả những luận cứ mà tác giả đưa ra, với cá nhân tôi chưa có sức thuyết phục. Với cảm nhận cá nhân, có lẽ chính tác giả Trọng Đức chưa đọc hết về chủ nghĩa Marx để thấy hết những cái hay cái dở của nó, lý luận mà ông ta đưa ra quá yếu kém, thậm chí ngô nghê ở một cây bút về mảng chính luận của một tờ báo lớn như QĐND
Tôi xin bàn vài vấn đề rất nhỏ để thấy sự sai lầm cũng như tính mâu thuẫn của chủ nghĩa Marx.
Marx vận dụng ba phát minh vĩ đại nhất của loài người ở thế kỷ 19 là học thuyết tế bàođịnh luật bảo toàn và chuyển hóa năng lượng và học thuyết tiến hóa để làm cơ sở cho luận chứng đưa ra.
- “Marx cho rằng lượng biến đổi sẽ dẫn đến biến đổi về chất và ngược lại”, ý tưởng này do thuyết tế bào ghi “tế bào luôn sinh ra từ tế bào có trước” điều đó hiểu theo một cách đơn giản có nghĩa là, khi tế bào lớn lên về thể tích, gia tăng vật liệu di truyền thì chính màng/vách tế bào sẽ trở nên chật trội và phải cho ra tế bào mới. Nếu điều đó không xảy ra, tế bào sẽ chết. Thế nhưng, việc phân tích sự thay đổi/biến đổi về cơ sở hạ tầng sẽ phải đưa đến sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng ngay trong lòng chủ nghĩa xã hội là gì, Marx đã “quên”.  Học thuyết Marx không dạy học trò của mình rằng vẫn giữ nguyên chiếc áo chật chội kiến trúc thượng tầng (mô hình xã hội) khi cơ sở hạ tầng đã biến đổi thì phải làm gì.
- Marx đưa ra giá trị khái niệm thặng dư, cho rằng giới tư bản bóc lột công nhân vì chiếm đọat giá trị thặng dư. Điều này là sai lầm khi Marx cào bằng mọi đóng góp của mọi bộ óc con người. Năng lực trí tuệ của mỗi cá nhân không giống nhau vì vậy họ phải được hưởng những kết quả không giống nhau cũng là lẽ thường. Những con người mà Marx gọi là tư sản bóc lột kia, họ làm giàu cho họ và được cả thế giới biết ơn. Với quan niệm của Marx thì những cái đầu khổng lồ như Bill Gates, Mark Zuckerberg là những kẻ đại bóc lột.
- Một điều trở nên mâu thuẫn quá hiển nhiên của Marx nữa là: Marx dùng quy luật đấu tranh sinh tồn trong học thuyết tiến hoá của Darwin làm nền tảng cho lập luận đấu tranh giai cấp. Trong học thuyết tiến hóa, Darwin đã chỉ rõ, đấu tranh sinh tồn luôn luôn diễn ra, tùy thời điểm, tùy hoàn cảnh mà mức độ mạnh hay yếu, nó chính là động lực cho sự phát triển của sinh giới. Chính chọn lọc tự nhiên giúp cho sinh giới chọn lọc được những cá thể, những loài ưu việt nhất mà đỉnh cao của quá trình đó chính là con người.
Nếu áp dụng quy luật này vào nền kinh tế thì việc cạnh tranh/thậm chí là đấu tranh với nhau chính là động lực phát triển và quy luật thị trường, sự chọn lựa của chính nhu cầu thị trường giúp sàng lọc lại những sản phẩm/dịch vụ tốt nhất.
Thế nhưng nhà nước và chính quyền VN lại “tiến hành một phép lai khác loài” để đưa ra một mô hình “kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa” một khái niệm xa lạ thậm chí lố bịch trong con mắt các nhà chuyên môn trên thế giới.
Sự đấu tranh luôn luôn diễn ra thậm chí trong từng mặt của vấn đề hay trong bản thân một cá nhân.
Thế nhưng Marx lại cho rằng, khi tiến tới Chủ nghĩa cộng sản thì mọi mâu thuẫn và đấu tranh giai cấp bị thủ tiêu.
-  Về quan niệm vật chất quyết định ý thức Marx viết “Vật chất quy định ý thức”. Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật quan hệ giữa vật chất và ý thức được viết như sau “vật chất có trước, ý thức có sau” tuy nhiên nó không phải là quan điểm một chiều, nó khác hoàn toàn với quan điểm “chỉ có vật chất mới quy định ý thức”.
Sau đó chính Lê Nin đã bổ sung cho tiền đề này khi ông tuyên bố:
“Vật chất có thuộc tính quy định ý thức. Ý thức có thuộc tính quy định vật chất”. Theo tôi, đây là câu hoàn chỉnh. Đơn giản chúng ta hãy tưởng tượng công việc của một nhà thiết kế, hay một họa sỹ vẽ tranh trìu tượng, tác phẩm của họ có được, là những bức tranh (vật chất) hoàn tòan được xây dựng từ ý tưởng (ý thức). Tuy nhiên khi vận dụng quan điểm này vào Việt Nam, những học trò của Marx có dòng máu Lạc Rồng này chỉ nói đến quan điểm khởi đầu của Marx là “chỉ có vật chất quyết định ý thức” để thể hiện quan điểm duy vật triệt để.
Còn rất nhiều điều về những sai lầm cũng như những vận vận dụng thiếu khoa học trong học thuyết của Marx, tuy nhiên nó lại là những khía cạnh hơi sâu về kinh tế, quản lý vĩ mô, về chính sách công mà những người ngoại đạo hơi khó hình dung nên tôi không tiện bàn.
Chỉ xin nhắc tác giả Trọng Đức nhớ rằng, phản biện hoàn toàn khác với ngụy biện. Việc non nớt trong lý luận và dẫn chứng mà tác giả đưa ra nó không những không thuyết phục người nghe mà nó còn làm cho người ta khinh ghét xem thường khi tác giả cố tình đưa ra những điều sai trái và mâu thuẫn cũng như bày biện khả năng suy diễn lệch lạc.
Hãy nằm lòng trong đầu “mọi học thuyết, lý thuyết chỉ để nghiên cứu còn việc chứng minh nó là phần việc của thực tiễn. Tính đúng đắn của học thuyết Marx, của mô hình xã hội chủ nghĩa, của việc một đảng độc tài lãnh đạo nó được chứng minh qua lịch sử phát triển của nhân loại bằng sự sụp đổ có hệ thống của CNXH ngay từ cái nôi nó ra đời và hiện trạng nền kinh tế, chính trị, xã hội Việt Nam hiện nay”. Đó là minh chứng hùng hồn nhất, mạnh mẽ nhất, thuyết phục nhất, chứ không phải là mấy bài báo định hướng như của ông/ bà đâu.
Có lẽ đã đến lúc những cơ quan về văn hóa, tư tưởng, chính trị nhằm định hướng dư luận cũng nên thay đổi não trạng về khả năng nhận thức và phải biện của độc giả là giới bình dân trong thời điểm này.
T.N.
—-

Friday, August 16, 2013

Aranjuez, ghi ta hoà quyện khúc đàn thôi miên

Tuấn Thảo
Trong số các bài hợp tấu dành riêng cho ghi ta cổ điển, bản Concierto de Aranjuez là tác phẩm cực kỳ nổi tiếng. Với hơn 1000 phiên bản ghi âm, kể cả những phiên bản có đặt lời hay không, khúc đàn Aranjuez trong hậu bán thế kỷ XX, giúp cho Tây ban cầm cổ điển trở nên vô cùng phổ biến. 
Trong số các bài hợp tấu dành riêng cho ghi ta cổ điển, bản Concierto de Aranjuez là tác phẩm cực kỳ nổi tiếng. Với hơn một ngàn phiên bản ghi âm, kể cả những phiên bản có đặt lời hay không, khúc đàn Aranjuez trong hậu bán thế kỷ XX, giúp cho Tây ban cầm cổ điển trở nên vô cùng phổ biến.
Tác phẩm Concierto de Aranjuez ra đời vào năm 1939 dưới ngòi bút của tác giả Joaquín Rodrigo (1901-1999). Ông sinh tại thị trấn Sagunto, cách thành phố Valencia khoảng 30 cây số, nằm ở phía đông Tây Ban Nha. Năm lên ba, ông mắc bệnh bạch hầu, gia đình không sớm phát hiện, nên ông bị mù đôi mắt. Năm lên tám, ông bắt đầu học đàn dương cầm và vĩ cầm, đến năm 16 tuổi ông học thêm lớp hòa âm và sáng tác (với thầy Francisco Antich).

Tốt nghiệp nhạc viện thành phố Valencia, ông bắt đầu cho ra đời những sáng tác đầu tay. Nhờ đoạt giải nhất nhân các cuộc thi, ông được sang Pháp du học trong vòng 5 năm tại Trường Cao đẳng Âm nhạc Paris, nối bước các bậc tiền bối là Isaac Albéniz, Manuel de Falla và Enrique Granados (người đã gợi hứng cho bà Consuelo Velazquez sáng tác bài Besame Mucho). Bốn gương mặt này sau đó được liệt vào hàng Tứ Quý nhờ công lao làm giàu dòng nhạc cổ điển Tây Ban Nha.
Tác giả Joaquín Rodrigo chấp bút sáng tác bản hợp tấu Concierto de Aranjuez năm ông 38 tuổi. Tác phẩm gồm ba phần, trong đó phần thứ hai viết theo thể điệu Adagio, chầm chậm trầm buồn, trở nên rất quen thuộc do được phối đi phối lại cả ngàn lần trong vòng nửa thế kỷ.
Aranjuez là tên của cung điện hoàng gia Tây Ban Nha, nằm cách thủ đô Madrid 50 cây số về phía nam. Khi nghe vợ mình kể lại khung cảnh nên thơ hữu tình của khu vườn thượng uyển bao bọc cung điện, tác giả chợt có ngẫu hứng sáng tác, để rồi lấy tên Aranjuez đặt cho tác phẩm.

Bản hợp tấu trở nên nổi tiếng ngay từ lần biểu diễn đầu tiên vào năm 1940 tại nhà hát lớn thành phố Barcelona. Giai điệu tha thiết lại càng u buồn da diết trong thời kỳ nội chiến Tây Ban Nha. Nhiều nhà phê bình cho là khúc đàn Adagio trong bản hợp tấu Aranjuez nói về cuộc đảo chính năm 1937 qua trận oanh tạc san bằng thành phố Guernica, mà danh họa Picasso đã thể hiện tài tình trong bức tranh cùng tên triển lãm tại Paris.
Về sau này, trong quyển tiểu sử viết về ông Rodrigo Joaquín, vợ của tác giả là nghệ sĩ dương cầm Victoria Kamhi kể lại rằng : chồng bà đã viết khúc adagio trong tâm trạng chán nản tuyệt vọng, nhưng đó là một nỗi buồn gia đình do mất mát riêng tư.
Vào thời ấy, hai vợ chồng chờ đón đứa con đầu lòng. Tác giả đã gần 40 tuổi, khó khăn lắm mới lập được gia đình. Nhưng niềm vui làm cha sẽ không tới vì đứa bé sinh non, chết từ khi mới lọt lòng. Nhiều năm sau đó, hai vợ chồng mới có được một đứa con gái.

Khúc đàn Aranjuez thành công trong hơn hai thập niên liền, được chuyển thể phóng tác nhiều lần, nổi tiếng nhất là phiên bản của tay kèn Miles Davis, nhưng mỗi lần ghi âm, các nghệ sĩ phải thu trọn vẹn chứ không được quyền rút ngắn.
Mãi đến năm 1966, lời hát đầu tiên mới được tác giả Guy Bontempelli đặt cho khúc nhạc này theo yêu cầu của ca sĩ người Pháp Richard Anthony. Dựa vào phiên bản tiếng Pháp Aranjuez mon amour, tác giả Alfredo Garcia Segura đặt thêm lời tiếng Tây Ban Nha thành ca khúc En Aranjuez con tu Amor.
Trong quyển hồi ký của mình, nam ca sĩ Richard Anthony kể lại lần gặp gỡ tác giả Rodrigo tại nhà riêng của ông ở thủ đô Madrid. Trong nguyên tác, khúc đàn Adagio của Aranjuez dài đến 9 phút, nên khi chuyển thành ca khúc, bài hát buộc phải tỉnh lược gần đi một nửa.

Ca sĩ người Pháp Richard Anthony nghĩ rằng tác giả Rodrigo sẽ khó mà bằng lòng để cho người khác chỉnh sửa tác phẩm của ông. Nhưng lạ thay, khi nghe thử bài hát, tác giả rất bồi hồi xúc động. Ông nói rằng cách phân đoạn giai điệu nghe rất lạ tai, nhưng lời bài hát tiếng Pháp làm cho ông chạnh lòng xao xuyến, nhớ lại bao kỷ niệm thời thanh niên.
Thời mà ông sang Paris du học với thầy là nhạc sư Paul Dukas tại Trường Cao đẳng Âm nhạc. Hai người rất quý mến nhau nên sau khi ông Paul Dukas qua đời vào năm 1935, tác giả Rodrigo đã viết bản Sonata de Adíos (Khúc đàn từ biệt) để kính tặng cho người thầy quá cố. Phiên bản ghi âm có lời ca ra đời vào năm 1967, một khi tác giả đã đồng ý nhận lời.
Bài hát Aranjuez mon amour trở thành một trong những bản nhạc ăn khách nhất trong sự nghiệp của Richard Anthony, với hơn 5 triệu đĩa đơn phát hành trong cùng một năm. Cánh chim bồ câu miền Hy Lạp Nana Mouskouri và nữ hoàng fado của Bồ Đào Nha đều có ghi âm ca khúc này trong tiếng Pháp.

Từ cuối những năm 1960 trở đi, bản Aranjuez sẽ liên tục được phóng tác chuyển dịch sang nhiều thứ tiếng, và trong mỗi ngôn ngữ bài này có ít nhất là hai lời. Trong tiếng Anh, có bản Follow Me do hai tác giả Hal Shaper và Herbert Kretzmer đặt lời. Nhưng nổi tiếng hơn nữa nhất là phiên bản I Recall Spain, của hai tác giả Artie Maren và Al Jarreau, dựa theo phóng tác nhạc jazz của Chick Corea.
Phiên bản tiếng Ý cũng có nhiều lời khác nhau : bài Trenodia của Giorgio Calabrese và bài Aranjuez, la Tua Voce của tác giả Paolo Dossena, do Dalida ghi âm và bản Lacrime của Pietro Galassi phối theo nhạc pop. Đến năm 1988, bà Victoria Kamhi, vợ của tác giả Joaquín Rodrigo, soạn thêm lời mới thành ca khúc Aranjuez, Ma Pensée (Aranjuez trong tâm trí).
Ngoài hai giọng ca tenor lừng danh thế giới là José Carreras và Placido Domingo, hầu hết các giọng ca xuất thân từ dòng nhạc pop cổ điển như Bocelli, Sarah Brightman hay các nhóm Il Divo, Amici đều có ghi âm lại bản Aranjuez, nhưng phiên bản làm cho tác giả Joaquín Rodrigo hài lòng vừa ý nhất lúc sinh tiền là bản hợp tấu của Paco de Lucia, tay đàn ghi ta flamenco nổi tiếng nhất của Tây Ban Nha.

Có một điều rất lạ là tác giả Joaquín Rodrigo đã viết một bản hợp tấu ghi ta rất đẹp rất hay, diễn đạt được tinh hoa của Tây ban cầm cho dù đây không phải là nhạc cụ sở trường của ông. Sinh thời, tác giả này sáng tác bằng đàn piano chứ ông không biết chơi đàn ghi ta.
Nhưng nhờ cái lỗ tai thần kỳ của một người khiếm thị, nhờ sức tưởng tượng dồi dào trong tâm trí, mà ông Joaquín Rodrigo lại mô tả được, dù chưa bao giờ nhìn thấy, một khu vườn xinh đẹp, diệu kỳ.
Tại Aranjuez, vườn hoa thượng uyển ngạt ngào hương mộc lan, dạt dào sắc thủy tiên, tiếng rì rào của gió thổi ngoài hiên, tiếng róc rách trong bồn nước chảy triền miên. Trong tâm trí của người viết nhạc, những âm thanh thiên nhiên một khi được hòa quyện, thành tiếng đàn gọi hồn, thành khúc nhạc thôi miên.
 

Friday, August 2, 2013

Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?

(Dân trí) - Trong đôi mắt nàng Mona Lisa có những đoạn mật mã của Da Vinci, trong bức “Bữa tối cuối cùng” dường như xuất hiện một người phụ nữ bồng con đứng cạnh Chúa…

Mật mã ẩn giấu trong đôi mắt nàng Mona Lisa
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Tranh luận thường tập trung vào nụ cười bí ẩn của nàng. Tuy vậy, khi các nhà sử học ở Ý quan sát bức tranh dưới kính hiển vi, họ đã phát hiện ra rằng bằng cách phóng to đôi mắt của nàng Mona Lisa, người ta còn có thể nhìn thấy những con số và chữ cái nhỏ xíu.
Các chuyên gia nói rằng đây có thể là “mật mã Da Vinci”. Ở mắt phải, người ta đọc được hai chữ LV, có lẽ là chữ viết tắt tên ông - Leonardo Da Vinci. Mắt trái có những biểu tượng không thể giải nghĩa và hai chữ cãi CE hoặc có thể là CB.
Ở vòm cầu nằm phía hậu cảnh có chữ số 72 hoặc cũng có thể là L2. Ngoài ra còn có con số 149 và chữ số thứ 4 bị tác giả xóa mất, nằm phía sau bức tranh. Điều này cho biết Da Vinci đã vẽ bức tranh này khi ở Milan hồi thập niên 1490.
Bức “Bữa tối cuối cùng”: Câu đố về toán học, thiên văn và nhạc lý
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Slavisa Pesci, một kỹ thuật viên chuyên về xử lý thông tin từng tạo ra một hiệu ứng hình ảnh thú vị bằng cách ghép bức tranh ngược lên bức tranh gốc và để hình ảnh hai bức tranh hòa vào nhau.
Kết quả tạo ra là hai môn đồ của Chúa ngồi ở hai đầu bàn bỗng hóa thành hai kỵ sĩ, ngoài ra còn có bóng một người phụ nữ đang bế một đứa trẻ xuất hiện ở phía bên trái Chúa Jesus.
Giovanni Maria Pala, một nhạc công người Ý từng chỉ ra rằng vị trí của các bàn tay và những ổ bánh mì còn có thể dịch ra thành những nốt nhạc trên một khuông nhạc. Nếu đọc từ phải sang trái (giống như cách viết đặc biệt của Leonardo lúc sinh thời), đoạn nhạc đó hoàn toàn là một giai điệu được soạn có chủ ý.
Xung quanh bức tranh này, nhiều nhà nghiên cứu toán học và thiên văn cũng đưa ra những ý kiến bình luận gây sửng sốt. Nhiều người còn “dịch” được ra thông điệp về ngày tận thế, về kiếp luân hồi…
Bức “Tạo ra Adam”: Chuyên môn về giải phẫu học của Michelangelo
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Michelangelo là họa sĩ, nhà điêu khắc vĩ đại của thời kỳ Phục hưng nhưng còn một chuyên môn mà nhiều người chưa biết ở Michelangelo, đó chính là nghiên cứu giải phẫu cơ thể người. Kể từ năm 17 tuổi, Michelangelo đã có niềm say mê khảo sát tỉ mỉ những thi hài bị bỏ lại trong nghĩa trang nhà thờ để chờ chôn cất.
Nhiều chuyên gia khẳng định rằng trong bức tranh nổi tiếng này, Michelangelo đã sử dụng tới những kiến thức về giải phẫu học khi những khối kết cấu phức tạp trong bộ não người được phản ánh đầy đủ bằng những chi tiết có biến tấu ít nhiều trong bức tranh. Ngay cả dải khăn xanh được vẽ ra cũng hoàn toàn có mục đích.
Bức “Đức Mẹ và Thánh Giovannino”: Xuất hiện vật thể bay không xác định
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Tác phẩm này không chỉ gây chú ý bởi phần cơ bụng săn chắc của Chúa Jesus khi còn là một đứa bé, danh họa Domenico Ghirlandaio còn khắc họa một đốm nhỏ kỳ lạ bay lượn trên bầu trời.
Trên vai trái Đức Mẹ Mary, chúng ta có thể nhìn thấy một vật thể mà ngày nay chúng ta có thể gọi ngay ra rằng đó là một chiếc đĩa bay. Vật thể này khi được xem xét dưới kính hiển vi có thể thấy họa sĩ đã khắc họa rất chi tiết.
Phía bên phải bức tranh còn có một người đàn ông đang đặt cánh tay trái lên trán cho bớt lóa và nhìn rõ hơn vật thể kỳ lạ này. Đây tuyệt đối không thể là mặt trời bởi góc trên bên trái của bức tranh, tác giả đã vẽ mặt trời rồi.
Bức “Nhà tiên tri Zechariah”: Michelangelo không sợ cả Giáo hoàng
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Mối bất hòa giữa Giáo hoàng Julius II và Michelangelo đã được lưu lại muôn đời bằng tác phẩm hội họa này. Các nhà sử học nói rằng Michelangelo đã khắc họa Giáo hoàng trong hình hài nhà tiên tri người Do Thái Zechariah. Một trong hai thiên thần đứng đằng sau Zechariah đã có một hành động rất… tục tĩu.
Bàn tay đứa trẻ ra dấu mà đương thời người ta chỉ dùng khi… chửi nhau. Ngón cái đặt vào giữa ngón trỏ và ngón giữa đã lột tả tất cả nỗi bực dọc của Michelangelo đối với Giáo hoàng Julius II.
Bức “David và Goliath”: Những chữ cái của người Do Thái
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Nghiên cứu cách sắp xếp tư thế của các nhân vật được khắc họa trên trần nhà nguyện Sistine ở Vatican, người ta nhận ra rằng Michelangelo đã tạo dáng cho các nhân vật lấy ý tưởng từ các chữ cái của người Do Thái. Ví dụ, bức “David và Goliath” này tạo thành chữ “gimel”, biểu tượng cho sức mạnh.
Bức “Tục ngữ Hà Lan”: 112 câu tục ngữ được minh họa trong một bức tranh
Mỗi bức tranh nổi tiếng đều mang một mật mã?
Bức “Tục ngữ Hà Lan” được thực hiện năm 1559 bởi họa sĩ Pieter Bruegel. Trong đó, một vùng đất đông dân cư với những hoạt động tưởng như rất đời thường, tự nhiên lại trở thành cuốn từ điển cô đọng bằng hình ảnh những tục ngữ Hà Lan.
Các nhà nghiên cứu đã đếm được 112 câu tục ngữ được thể hiện trong bức tranh này. Một số câu vẫn còn được sử dụng cho tới hôm nay, ví dụ “bơi ngược dòng”, “cá lớn nuốt cá bé”, “đập đầu vào tường”, “vũ trang tới tận răng”…
 
Pi Uy
Theo Oddee