Sunday, December 15, 2013

Đài TH Đồng Nai (?) chiếu Phim tài liệu HẢI CHIẾN HOÀNG SA do VNCH thực hiện

http://diendanxahoidansu.wordpress.com/2013/12/15/dai-th-dong-nai-phim-tai-lieu-hai-chien-hoang-sa-do-vnch-thuc-hien/
  comments : Lương ngọc Phát on 15/12/2013 - 9:49 sáng
  1. Nghe nói phim tài liệu này ,đài THĐN xuất bản hồi tháng 6/2013 ( tôi không dám khẳng định ).
    Chỉ nhân đây,xin post bài thơ của một thượng sĩ quân lực VNCH .Tác giả lớn tuổi hơn tôi nhiều,
    nhưng là bạn vong niên thân thiết ,Phạm lê Phan. Ông ngộ nạn qua đời trên vùng Kinh tế mới
    trong lúc nhọc nhằn mưu sinh. Đám tang ông, tôi có viếng .
    Mời các bạn đọc bài thơ người lính VNCH xưa để phần nào cảm nhận lòng người miền Nam
    khi Trung Cộng chiếm Hoàng Sa.
    Bài Cho Hải Ðảo Hờn Căm
    Phạm Lê Phan
    Gia Ðịnh, chiều 30 Tết Giáp Dần (22/01/1974)
    Lời biển gọi cuối năm
    Hờn căm trừng mắt lửa
    - Hỡi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa …
    Mẹ Ðứng mũi Sơn Chà
    Gửi hồn ra Ðông Hải
    Ðảo nổi giận nên biển cuồn sống dậy
    Ôi, đất nước ông cha: tay đứt lòng đau
    Súng thét khơi xa, sao lửa đốt trong đầu
    Lòng mẹ bời bời: ruột mềm máu chảy
    Mắt mẹ trông vời, triền môi run rẩy:
    - Hỡi Hoàng Sa, hỡi các cháu con ta?
    Con cháu mẹ
    Năm mươi đứa làm anh hùng của bể
    Năm mươi con thành dũng sĩ Trường Sơn
    Bốn ngàn năm mài nhọn mũi căm hờn
    Phóng mắt hận, nghiến răng ghìm giặc Bắc.
    Cờ Nương Tử phất bay hồn xâm lược
    Gươm Mê Linh thét máu nhuộm đầu voi
    “Trèo lên đỉnh núi mà coi
    Dáng Bà quản tượng trăng soi ngời ngời”.
    Cửu Chân hề, Cửu Chân ơi!
    Gót nhi nữ ra khơi
    Ðạp tan luồng sóng dữ
    Chém cá tràng kình, rạng danh liệt nữ
    Dũng khí Nhụy Kiều gục mặt Bắc quân!
    Ngậm mối thù truyền kiếp mấy ngàn năm
    Con cháu mẹ từng nhọc nhằn u uất
    Đắm biển mò châu phơi rừng tìm ngọc
    Nanh vuốt sài lang nào kể gái hay trai
    Máu mỡ no nê muông thú một bầy
    Loài đỉa Hán vốn cuồng say máu Việt
    Nước độc rừng thiêng một đi là một chết
    Vạn người đi, không một bóng ma về
    Ðá Trường Sơn con khắc ngập câu thề:
    “Ðòi nợ máu phải đổi răng, đổi mắt!”
    Bạch Ðằng xưa nghẹn giòng muôn xác giặc
    Dù Hán, dù Mông nước đỏ cũng hôi tanh
    Tóc thú đuôi sam – gươm giáo Việt tung hoành.
    Vó ngựa Lý, Lê từng phen đạp Tống
    Ngọn giáo Ðinh, Trần vạch cõi Nam uy dũng,
    Ðầu Mãn Thanh vờn kiếm lộng Quang Trung.
    Trải an nguy son sắt vẫn một lòng
    Mỗi tấc đất một chiến công oanh liệt
    Mỗi tên người một anh hùng, nữ kiệt
    Mỗi gốc cây muôn xác quỉ vùi sâu
    Dòng Việt Nam chưa hề biết cúi đầu
    Dù giặc Bắc bạo tàn hơn súc vật!
    Hồn Nam Hải cuối năm
    Lạnh căm căm hơi bấc
    Bởi thương con mẹ lên đỉnh Sơn Chà
    “Ôi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa
    Khôn thiêng nối gót mẹ cha mà về”.
    Hãy đứng thẳng mà đi
    Hởi đàn con từng khua sôi biển cả
    Cất cao đầu uống lời thề sông Hóa
    Hàm Tử, Vân Ðồn, Tây Kết, Chương Dương,
    Vươn chiến công kim cổ Bạch Ðằng Giang
    Xô cuồng vọng Bắc Kinh vào biển máu!
    Xưa ông cha mình giết Liễu Thăng, Hoằng Tháo
    Ðánh gục đầu Tôn Sĩ Nghị , Thoát Hoan.
    Giờ bè lũ Mao lại xâm phạm biên quan
    Xua hải tặc cuồng điên lên cướp đảo
    Ôi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa yêu dấu
    Ðất đai ta một mảng cũng thịt xương
    Tổ quốc ta một tấc cũng tim gan
    Xương thịt đứt thì tim gan đau xót!
    Hỡi đàn con của Cửu Long bất khuất
    Ngạo nghễ trên vai hồn An Lộc, Tam Biên
    Mang trong tim giòng máu thép Trị Thiên
    Lời phạt Bắc thét run hồn biển cả.
    Chiều cuối năm, một mối thù chưa trả
    Xuân sắp về – trời bỗng nặng nề mưa …
    ,Phạm lê Phan.

Saturday, December 7, 2013

CÂU ĐỐI XUÂN GIÁP NGỌ

Mai Quang Xuất:

Lão Giáp tới Ngọ môn khai môn vừa Giáp Ngọ.

 Thanh-Huyền  Đối:


Cô Tân về Xuân Lộc hái lộc đón Tân Xuân.

Thursday, December 5, 2013

Ngày Quốc Kỳ cho nước Việt Nam



Quý vị độc giả thân mến, trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay, mọi giá trị nhân văn – khai phóng nhằm củng cố và phát triển bản sắc quốc gia phải được ưu tiên thực hiện, có như thế thì chúng ta mới không bị bão hòa trong cơn lốc hội nhập quốc tế. Bản sắc ở đâu nếu không phải là những tập quán sinh tồn và di sản văn hiến từ xưa để lại ? Hay là phải khoanh tay nhìn chúng bị mai một, bị phá hủy thô bạo ?… Vì những lẽ này, chúng tôi mạo muội đề xuất một thời điểm để tôn vinh lá quốc kỳ Việt Nam, nó thể hiện sự tri ơn tiền nhân bằng sự kiện văn hóa và cũng đóng góp cho việc gìn giữ một biểu tượng quốc gia. Hy vọng sau bài viết này, quý độc giả sẽ phản hồi quan điểm riêng và những ý tưởng khác nữa, BBT TTXVA trân trọng và sẵn sàng sẻ chia mọi khúc mắc !
QUOCKY-CO
Trước khi bài viết này được đưa ra, TTXVA đã liên tục đăng tải những bài viết của những tác giả khác nhau trên tinh thần khách quan – trung thực – đa chiều, có người liệt kê toàn bộ quá trình tạo nên lịch sử quốc kỳ Việt Nam (tuy rất ngắn ngủi nhưng có ích cho công cuộc tự chủ của đất nước) và cũng có người tìm cách phục sinh những mẫu cờ dựa trên tư liệu sẵn có… Phần nhiều, các quan điểm phản hồi rất khác biệt nhau, thậm chí đối lập nhau, nhưng trên nhất thì thấy rằng, ở cộng đồng chúng ta chưa hề có văn hóa ứng xử với quốc kỳ, tất cả chỉ dựa vào thiên kiến chủ quan. Có người sùng bái quốc kỳ một cách mù quáng, có người ra sức mạt sát những lá quốc kỳ mà họ ghét, lại có người đắm chìm trong các tư liệu về quốc kỳ và trở nên ngộ nhận… Những hành vi đó không thể coi là văn hóa ứng xử, mà đáng gọi là sự thô vụng, kém văn minh. Nội hàm lá cờ là thứ dấu hiệu về chính trị – văn hóa – lịch sử, nó được trừu tượng hóa bằng hình vẽ và màu sắc, thế nhưng khôi hài là nhiều người vẫn cho đó như là… bát hương và phải khấn lạy sì sụp. Không hẳn, lá cờ là thứ vật dụng không hơn gì ngôi nhà chúng ta ở, gia đình chúng ta gắn bó và ngôi trường chúng ta theo học, nó thân thuộc với chúng ta và không thể đứng trên chúng ta được. Tại các cộng đồng có văn hóa hiệu kỳ lâu đời, tất cả mọi người đều tự do thiết kế cờ theo sở thích riêng và không ai mạt sát hay thóa mạ nhau vì nó. Nan đề của nước chúng ta là không hề biết tới hoặc không sao đạt được tập quán đó, cho nên bao lâu rồi vẫn đắm chìm trong những tranh luận thiếu chiều sâu. Quốc kỳ là một trong các dấu hiệu đại diện cho quốc gia, tự nó không lệ thuộc quan điểm của bất cứ cá nhân hay tổ chức nào và tất nhiên, dù ý thức hệ của quốc dân có khác biệt nhau thì quốc kỳ không liên quan gì đến những tranh cãi của họ, nó đứng cao hơn ý thức hệ và không ai có quyền phủ định nó chỉ vì bất đồng ý kiến.
Từ khoảng cuối thế kỷ XIX trở đi, khi mà các đế chế lớn đã phân rã và nhiều quốc gia nhỏ hơn hình thành, sự vun bồi không gian văn hóa – chính trị riêng trở nên cấp thiết. Chủ yếu tại châu Âu và lan nhanh sang châu Mỹ, châu Đại dương, các quốc gia thường lấy một sự kiện chính trị – lịch sử nào đó làm dấu mốc tôn vinh lá cờ nước mình, đó có thể là ngày lập quốc (Albania, Colombia, Thụy Điển…), ngày ấn định mẫu quốc kỳ (Úc, Canada, Romania…), ngày diễn ra một biến cố lịch sử (Argentina, Đan Mạch, Philippines…)… Trong Anh ngữ, có hai cách gọi sự kiện này : Flag Day (tại các nước có văn hóa hiệu kỳ thì sự kiện hướng tới mọi lá cờ và không nhất thiết phải là quốc kỳ), Day of National Flag (chỉ tôn vinh quốc kỳ). Quốc kỳ (đại diện cho quốc gia) khác với hoàng thất kỳ (đại diện cho hoàng tộc), và cũng khác với hội kỳ – đảng – đoàn kỳ (đại diện cho một tổ chức)… Cộng đồng Việt Nam xưa nay không có văn hóa hiệu kỳ, các lá cờ thường để trang trí hoặc khu biệt trong các hoạt động quân chủ – quân sự, cho nên cách gọi thứ hai có lẽ hợp hơn cả. Đây là một sự kiện chính đáng, có tính cách văn hóa và khả năng liên đới cộng đồng cao, tự nó tạo ra sự cảm thông và hiểu biết giữa người với người, giữa hậu thế với tiền nhân, hoàn toàn vui vẻ và không hề chịu sự chi phối của tư duy chính trị.
Trong ý nghĩa của tên gọi Ngày Quốc Kỳ, buộc chúng ta phải rà soát lịch sử xem sự kiện nào gắn liền với quốc kỳ để mà đánh dấu. Đây, sự liệt kê quốc kỳ của những chính thể từng đại diện hoặc tự xem là đại diện cho cộng đồng Việt Nam :
qkvnls
Liệt kê này không quan tâm đến những chính thể hoặc dự án quốc gia chưa từng đại diện cho cộng đồng Việt Nam. Từ liệt kê mà nhận định, đa số các lá cờ tại Việt Nam đều chú trọng sao (star) và sọc (stripe) – màu đỏ (red) và màu vàng (yellow), vì thế có những khi chúng tôi không thể nhịn được cười, nhiều cá nhân hay tổ chức lâu nay thường dựa vào ý thức hệ để mạt sát kẻ đối lập mình. Thực chất thì lối tư duy của bên này hay bên kia đều giống nhau hoặc không hơn nhau, vậy thì tranh cãi để làm gì và vì cái gì ? Thật thiển cận và lố bịch !
Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise, 1887 – 1953) chỉ là một liên minh gồm 6 lãnh thổ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Quảng Châu Loan, Lào, Kampuchea) do Đế quốc thực dân Pháp (Empire colonial français) ủy trị và có tính cách bán thể chế ; vậy nên, lá cờ của Liên bang Đông Dương không phải quốc kỳ chính thức. Chỉ đến sự kiện hoàng quân Nhật Bản gạt người Pháp khỏi Đông Dương (9 tháng 3 năm 1945) và đưa lãnh thổ này vào không gian Thịnh vượng chung Đại Đông Á (大東亜共栄圏), về căn bản Việt Nam mới là nước độc lập, có chủ quyền. Vì lẽ rằng, trước khi cuộc đảo chính diễn ra, chính phủ Nhật Bản đã kêu gọi các nước Đông Dương tuyên bố độc lập, nhằm hợp pháp hóa ảnh hưởng của Nhật. Vì lẽ rằng, vào ngày 11 tháng 3 cùng năm, Hoàng đế Bảo Đại đã tuyên chiếu Việt Nam độc lập (quốc danh : Đế quốc Việt Nam), trước sự chứng kiến của Nội các đại thần và đại diện chính phủ Nhật Bản. Vì lẽ rằng, ngày 13 tháng 3 năm 1945, quốc vương Norodom Sihanouk đã tuyên bố Kampuchea độc lập và đến ngày 8 tháng 4 thì vua Sisavang Vong cũng thực hiện việc đó với Lào ; Kampuchea thậm chí còn công bố mẫu quốc kỳ mới, mẫu quốc kỳ sử dụng thời thuộc Pháp bị phế bỏ.
Tại Việt Nam, ngày 17 tháng 4, ông Trần Trọng Kim được Hoàng đế Bảo Đại ủy nhiệm chức Thủ tướng và thành lập tân Nội các, từ đây nước Việt Nam trở thành chính thể quân chủ lập hiến. Lúc này, Việt Nam có hai thủ phủ : Hà Nội (quốc đô), Huế (đế đô). Ngày 19 tháng 8 cùng năm, tổ chức Việt Minh (Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) tiến hành cuộc đảo chính không đổ máu (thường được gọi là Cách mạng Tháng Tám, hay Cách mạng Mùa Thu) và giành được chính quyền từ cấp trung ương đến địa phương ; sự kiện ông Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 cùng năm được coi là dấu mốc hình thành chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (cách gọi khác là Việt Nam Dân quốc). Nghĩa là, trước khi chính thể Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, đã có một chính thể đại diện hợp pháp cho quốc gia – quốc dân Việt Nam và có tới hai kiểu thiết chế chính trị (ban đầu là quân chủ chuyên chế và sau là quân chủ lập hiến). Như thế, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không phải chính thể đầu tiên của nước Việt Nam hiện đại độc lập và có chủ quyền, lá cờ đỏ sao vàng (hay cờ sao mai) cũng không nên được xem là mẫu quốc kỳ đầu tiên.
Thời kỳ Đế quốc Việt Nam tuy chỉ tồn tại trong mấy tháng nhưng đã có tới hai mẫu quốc kỳ : Cờ long tinh (11.3 – 17.4.1945), cờ quẻ Ly (17.4 – 23.8.1945). Lá cờ long tinh (long tinh kỳ / 龍星旗) ra đời vào năm 1920 dưới triều Khải Định (trị vì từ 1916 đến 1925), là hoàng thất kỳ (皇室旗) của triều Nguyễn (cờ đại diện cho hoàng tộc) và đến ngày 11 tháng 3 năm 1945 thì Hoàng đế Bảo Đại (trị vì từ 1925 đến 1945) ấn định cờ long tinh đại diện cho nước Việt Nam độc lập, thống nhất và có chủ quyền. Bởi thế cho nên, sự kiện 11 tháng 3 năm 1945 xứng đáng được xem là dấu mốc tôn vinh quốc kỳ Việt Nam. Vậy, sự kiện này diễn tiến ra sao và có ý nghĩa thế nào đối với lịch sử nước ta ?
NhatbaoDientin11.3.1945
Nhật báo Điện tín – số ra ngày 12 tháng 3 năm 1945 – đưa tin về sự kiện 11 tháng 3.
Ngày 11 tháng 3 năm 1945, tại điện Kiến Trung (kinh thành Huế), trước mặt sáu Thượng thư Cơ mật Viện (Phạm Quỳnh, Hồ Đắc Khải, Nguyễn Phước Ưng Úy, Bùi Bằng Đoàn, Trần Thanh Đạt, Trương Như Đính) và đại diện chính phủ Nhật Bản (đại sứ Yokoyama Masayuki, tổng lãnh sự Konagaya Akira, lãnh sự Watanabe Taizo), Hoàng đế Bảo Đại đã đọc đạo dụ Tuyên cáo Việt Nam độc lập, nội dung như sau :
Cứ tình hình chung trong thiên hạ, tình thế riêng cõi Đông Á, chính phủ Việt Nam tuyên bố từ ngày này Hòa ước Bảo hộ với nước Pháp bãi bỏ và nước Nam khôi phục quyền độc lập. Nước Việt Nam sẽ gắng sức tự tiến triển cho xứng đáng một quốc gia độc lập và theo như lời tuyên ngôn chung của Đại Đông Á, đem tài lực giúp cho cuộc thịnh vương chung. Vậy chính phủ Việt Nam một lòng tin cậy lòng thành ở Nhật Bản Đế quốc, quyết chí hợp tác với nước Nhật, đem hết tài sản trong nước để cho đạt được mục đích như trên.
Khâm thử.
Ngày 27 tháng Giêng năm thứ 20 triều Bảo Đại.
Đạo dụ có chữ ký của sáu vị đại thần và được xác nhận là sự chấm dứt những ràng buộc của chính phủ Pháp đối với chủ quyền nước Việt Nam. Quốc danh (Đế quốc Việt Nam / 越南帝国) thực chất đã được lưu hành bán chính thức từ trước và cờ long tinh từ vai trò hoàng thất kỳ đã trở thành lá cờ quốc gia. Định dạng chuẩn của lá cờ như sau : Kích thước 1:2, ba sọc ngang – sọc đỏ (#EF4135) nằm giữa hai sọc vàng (#FFFF00), chiều rộng sọc đỏ bằng ½ chiều rộng cờ.
Colongtinh1945
Mẫu cờ long tinh sử dụng từ 1920 đến 1945.
Colongtinh1939-1 Colongtinh1939-2Longtinhky1939-1
Longtinhky1939-2
Longtinhky1939-3
Longtinhky1939-4
Longtinhky1939-5
Cờ long tinh xuất hiện trong lễ tấn phong Hoàng thái tử Bảo Long (Xem trước)
, ngày 7 tháng 3 năm 1939. Trích từ phim tài liệu Hué Ville Impériale của Henri Richard.

Invasion japonaise de l'Indochine
Tranh tuyên truyền cổ vũ cho liên minh Pháp – Nhật Bản – Việt Nam thời Đệ nhị Thế chiến. Ba lá cờ cùng xuất hiện : cờ tam tài (Pháp), cờ mặt trời (Nhật Bản), cờ long tinh (Việt Nam).
The_Dragon_Spirit_Flag_in_the_stamp_what_was_released_on_11_March_1945,_to_notice_the_independence_of_Empire_of_Vietnam_from_French_colonial_Empire
Tem in hình lá cờ long tinh và con số 11.3.45 nhằm mô tả sự kiện Việt Nam độc lập.
Thực chất của hành động trao trả độc lập “một cách tự nguyện” cho ba nước Đông Dương là Đế quốc Nhật Bản muốn gồm thâu sự ủng hộ của mọi tầng lớp dân chúng bản xứ ; ngay từ trước khi đặt chân vào Đông Dương, Nhật Bản đã tung ra những hứa hẹn cho một xứ sở độc lập, phồn vinh. Ít nhiều đã có một lượng không nhỏ tin tưởng ; tuy nhiên, dù “độc lập” nhưng các nước Đông Dương không có thực quyền về chính trị, mọi hoạt động kinh tế và quốc phòng đều do người Nhật kiểm soát. Nhưng ý muốn độc quyền cai trị của Nhật Bản tại Đông Dương và toàn bộ khu vực Đông Á – Tây Thái Bình Dương không theo kịp đà tiến của cuộc Đệ nhị Thế chiến (1939 – 1945) : Khoảng đầu tháng 5 năm 1945, Đức Quốc Xã đầu hàng và Đế chế III sụp đổ ; hai trái bom nguyên tử do Không quân Hoa Kỳ trút xuống Hiroshima (ngày 6 tháng 8) và Nagasaki (ngày 9 tháng 8) đã quật ngã cuồng vọng bá chủ của chính phủ Nhật Bản ; ngày 14 tháng 8 năm 1945, Đế quốc Nhật Bản ký văn kiện đầu hàng và khối Đại Đông Á tiêu tan. Sự kiện 14 tháng 8 nghiễm nhiên trở thành cơ hội tạo ra một nước Việt Nam độc lập, thống nhất và có chủ quyền, nhất là không phải chịu bất cứ thiệt hại nào vì nền độc lập. Đây là trường hợp hy hữu trong lịch sử Việt Nam cũng như thế giới, cho dù nước chúng ta thuộc về những quốc gia sớm bị làn sóng thực dân khuất phục và giữa năm 1945 đã xảy ra nạn đói gây tổn thất nhân mạng quá lớn, nhưng Việt Nam đã tiếp đón lực lượng Đồng Minh với tư cách một quốc gia có thể chế chính trị tự chủ, có chủ quyền lãnh thổ chứ không phải xứ thuộc địa. Chúng ta biết rằng, trước sự kiện 11 tháng 3 và 14 tháng 8, đã có nhiều thế hệ người Việt Nam bỏ quên cả tuổi xuân và tính mạng chỉ vì mưu cầu cho nền độc lập của Tổ quốc. Thiết nghĩ, đấy là vinh hạnh lớn, vì đương thời hầu hết các nước trên thế giới không có vận may này. Có nước bị chiến tranh cướp đi nhiều sinh mạng và vật lực, có nước phải trả giá cho tội ác chiến tranh rất nặng nề và cũng có nước bị các cường quốc xóa sổ chính thể, cắt nhỏ lãnh thổ…
Ngày Quốc Kỳ thực sự là một nét đẹp trong văn hóa hàm ơn tại Âu châu, thiết nghĩ, không lẽ nào người Việt Nam chúng ta không tiếp nhận. Với mạng lưới truyền thông dồi dào và sự tân tiến trong tư duy cá nhân hiện nay, việc tổ chức sự kiện Ngày Quốc Kỳ không nhất thiết phải phơi bày rầm rộ, cũng không buộc phải tỏ ra kính cẩn và trang nghiêm ; nhưng chắc chắn rằng, sự tiếp nhận ý chí tiền nhân của hậu thế sẽ mạnh mẽ hơn và cũng mong rằng, qua sự kiện này, văn hóa hiệu kỳ sẽ nở rộ trong cộng đồng Việt Nam.
VNDQ (VNQPH)
Mẫu cờ ngũ tinh liên châu – dự án Việt Nam Dân quốc của Việt Nam Quang phục Hội (1912 – 1925). Lá cờ này tuy không có cơ hội trở thành quốc kỳ, nhưng đã được phất lên trong sự kiện binh biến Thái Nguyên (1917). Trong cuốn sách Lương Ngọc Quyến, Đào Trinh Nhất viết : “Cờ ngũ tinh có năm ngôi sao… Đến năm 1917, ngọn cờ phấp phới trên tỉnh thành Thái Nguyên bảy ngày về tay cách mạng tức là cờ Ngũ Tinh“.
vnqpqdp
Trong cuốn hồi ký nhan đề Tự phán, viết năm 1929 tại Bến Ngự (Huế), Phan Bội Châu giải thích : ”Xưa nước ta chỉ có cờ Hoàng Đế mà không có cờ nước cũng là một việc đáng quái gở. Hội Việt Nam Quang phục mới chế định ra quốc kỳ bằng cờ ngũ tinh, dạng huy thức dùng bằng cách ngũ tinh liên châu… Nhân vì nước ta có năm địa bộ, sở dĩ dùng thức nầy để tỏ rõ cái ý năm đại bộ liên lạc làm một. Sắc cờ dùng hoàng địa, hồng tinh làm cờ nước ; hồng địa bạch tinh làm cờ quân. Hoàng là để biểu thị nhân chủng ta. Hồng là biểu thị sắc nước ta : Nam phương thuộc hỏa, hỏa sắc hồng. Quân kỳ sở dĩ dùng bạch tinh là tỏ rõ mục đích quân, cốt đánh đổ chính phủ người (da) trắng“.
VNDQ (VNQDĐ)
Lá cờ nửa đỏ nửa vàng – dự án Việt Nam Dân quốc của Việt Nam Quốc dân Đảng. Nó được sử dụng làm đảng kỳ từ 1929 đến 1945. Màu đỏ thể hiện cuộc tranh đấu cách mạng ; màu vàng tượng trưng cho quốc gia – quốc dân – bản sắc truyền thống Việt Nam.
Khởi_nghĩa_Yên_Bái_(1930)
Việt Nam Quốc dân Đảng sử dụng lá cờ nửa đỏ nừa vàng lần đầu trong sự kiện Tổng khởi nghĩa Yên Báy (1930). Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại và tổ chức bị phân rã, lá cờ này ít được dùng lại. Hiện nay, nó chỉ xuất hiện trong lễ tưởng niệm liệt sĩ Yên Báy.
Việt Nam Dân quốc (dự án của VNPQĐMH)
Mẫu cờ chữ Vương – dự án Việt Nam Dân quốc của Việt Nam Phục quốc Đồng minh Hội (1939 – 1951). Ý nghĩa lá cờ này gần giống quốc kỳ Nhật Bản : màu trắng tượng trưng cho sự thuần khiết, chính trực ; màu đỏ thể hiện lòng nhiệt thành ; hình tượng chữ Vương (王) vừa biểu trưng cho nền văn hiến vừa thể hiện Việt Nam là nước quân chủ.
Khuyencaoquocdanca
Bìa sách Khuyến cáo quốc dân ca của Hoàng thân Cường Để (1882 – 1951) có in lá cờ chữ Vương, thậm chí đã khởi xướng mẫu quốc huy.
BetsyRoss-USA
Nước Mỹ lấy sự kiện 14 tháng 6 năm 1777 là Ngày Quốc Kỳ (Flag Day) : Để động viên tinh thần binh sĩ trong cuộc chiến tranh vì độc lập, George Washington (1732 – 1799) đã đề nghị cô Betsy Ross (1752 – 1836) may một lá cờ và sau này nó được chọn làm quốc kỳ. Lá cờ có tên gọi Sao và Sọc (Stars and Stripes), do Mỹ là quốc gia được tạo nên bởi các làn sóng nhập cư nên lá quốc kỳ nghiễm nhiên trở thành biểu tượng thống nhất – hòa hợp và cũng có thể xem là hình tượng văn hóa đặc trưng nhất của Mỹ.
Flag of Argentina
Argentina lấy ngày tạ thế của Manuel Belgrano làm Ngày Quốc Kỳ : 20 tháng 6. Manuel Belgrano (1770 – 1820) là người sáng tạo ra mẫu quốc kỳ và cũng là một trong những lãnh tụ cuộc chiến tranh giành độc lập của đất nước này.
Liberiaflag
Đất nước Liberia coi ngày 24 tháng 8 là Ngày Quốc Kỳ – thời điểm đó năm 1847, mẫu quốc kỳ như hiện nay thường thấy được ấn định.
BattleofAlapan1898
Ngày Quốc Kỳ của Philippines (Araw ng Watawat) là 12 tháng 6 để kỷ niệm trận đánh Alapan, diễn ra năm 1898 : Lực lượng cách mạng quân Philippines giành thắng lợi trong cuộc chiến với quân đội Tây Ban Nha – sự kiện này có ý nghĩa quyết định cho nền độc lập của Philippines. Những người tham dự trận đánh đã sử dụng lần đầu tiên lá cờ mà sau đó đã trở thành quốc kỳ, tác giả mẫu cờ này là Emilio Aguinaldo (1869 – 1964) – tổng chỉ huy của quân đội Philippines trong trận Alapan.
Australian National Flag Day
Ngày 3 tháng 9 năm 1901, lá quốc kỳ Úc xuất hiện lần đầu tại thành phố Melbourne, sự kiện này được tôn vinh là Ngày quốc kỳ Úc (Australian National Flag Day).
Flag of Lithuania
Litva lấy ngày 1 tháng 1 làm Ngày Quốc Kỳ (Vėliavos diena) để kỷ niệm sự kiện diễn ra năm 1919 : Lá cờ tam tài lần đầu tiên xuất hiện tại tháp Gediminas (công trình lịch sử gắn liền với giai đoạn Thịnh vượng chung Ba Lan – Litva). Từ 1945 đến 1989, Litva bị sáp nhập vào Liên bang Soviet, lá cờ này không được sử dụng, nhưng nó đã xuất hiện trở lại trong cao trào độc lập sau sự kiện Chính biến Soviet.
Flag of Sri Lanka
Ngày Quốc Kỳ của Sri Lanka là 4 tháng 2, trùng với lễ kỷ niệm sự kiện Sri Lanka giành độc lập từ Đế quốc Anh (1948).
National Flag of Canada Day
15 tháng 2 là ngày quốc kỳ Canada (National Flag of Canada Day / Jour du drapeau national du Canada), thời điểm này vào năm 1965, cờ lá phong (The Maple Leaf / l’Unifolié) được công nhận là quốc kỳ.
День Государственного флага Российской Федерации
Người Nga gọi thời điểm 22 tháng 8 là Ngày quốc kỳ Liên bang Nga (День Государственного флага Российской Федерации) để kỷ niệm sự kiện Chính biến Soviet (hay Chính biến Tháng Tám), một nhóm sĩ quan KGB thủ cựu tiến hành lật đổ Tổng thống Mikhail Gorbachyov nhằm ngăn chặn làn sóng cải tổ, Boris Yeltsin (Tổng thống Nga) kêu gọi người dân xuống đường cản bước tiến của xe tăng và phản đối nhóm đảo chính. Những người tham gia biểu tình đã phất lá cờ tam tài (trắng-lam-đỏ) – vốn là quốc kỳ Nga trong các thế kỷ XVIII-XIX, trước khi bị chính thể Soviet phế bỏ (1917).

Wednesday, December 4, 2013

CHÚC XUÂN



Một cành mai nở ngăn làn bấc
Đôi búp non cười tiễn giấc đông
Phúc lộc xôn xao chờ trước ngõ
Vinh hoa chào đón đợi bên song
                             Thanh-Huyền


Thursday, November 28, 2013

Khi Mỹ bóp cò Thì Ngân Hàng Trung Quốc Sụp Đổ


Bà Janet Yellen ra điều trần trước Ủy ban Ngân hàng của Thượng viện Hoa Kỳ. Getty Images
Hôm Thứ Năm 14/11, bà Janet Yellen ra điều trần trước Ủy ban Ngân hàng của Thượng viện Hoa Kỳ. Đấy là thủ tục thông thường để Quốc hội biểu quyết và phê chuẩn đề nghị của Tổng thống là bổ nhiệm bà Yellen vào chức vụ Chủ tịch Hội đồng Dự trữ Liên bang, nôm na là làm Thống đốc Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ, kể từ đầu năm tới.
Đang ngồi ghế Phó Thống đốc bên cạnh Chủ tịch Ben Bernanke sắp mãn nhiệm, Janet Yellen là kinh tế gia nổi tiếng, có ông chồng George Akerlof cũng là kinh tế gia, đã đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2001. Bà sẽ là phụ nữ đầu tiên lên lãnh đạo hệ thống ngân hàng trung ương của nước Mỹ. Chuyện ấy đã hấp dẫn.
Hấp dẫn hơn vậy, giới nghiên cứu về đầu tư theo dõi rất sát cuộc điều trần, để từ chủ trương đường lối của bà Yellen mà dự đoán quyết định của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Nhưng tại Bắc Kinh hay Thượng Hải, lãnh đạo kinh tế và ngân hàng của Trung Quốc cũng nên chú ý tới chuyện này. Vì Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ có thể vô tình làm sụp đổ hệ thống ngân hàng của Bắc Kinh và gây ra một vụ suy thoái kinh tế, tức là một vụ khủng hoảng chính trị.
Vô tình chiết liễu… liễu tan hoang.
Chúng ta phải đi từ đầu câu chuyện kinh tế mang ý nghĩa như một…. câu phú tử vi: “cố ý trồng hoa, hoa chẳng mọc!…”
Từ vụ khủng hoảng tài chánh năm 2008 rồi nạn suy trầm kinh tế 2008-2009 và sự hồi phục quá yếu ớt sau đó, Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ đã cắt lãi suất tới sàn. Thực tế là áp dụng “Chính sách ZIRP” – là lãi suất bằng số không. Tiếp theo là ba đợt bơm tiền qua một thuật lạ gọi là “quantitative easing” (nâng mức lưu hoạt tiền tệ có định lượng) vào Tháng 11 năm 2008, rồi Tháng 11 năm 2010 và Tháng Chín năm 2012. Quyết định lần thứ ba (QE3) có kích thước rất lớn là mỗi tháng bơm ra 85 tỷ đô la.
Nói cho dễ hiểu là làm cho kinh tế có tiền nhiều và rẻ hơn, với hy vọng giảm bớt và thu hồi lại nếu kinh tế phục hoạt, thất nghiệp giảm và lạm phát tăng…
Tháng Năm vừa qua, Chủ tịch Ben Bernanke thông báo là nhờ tình hình kinh tế khả quan hơn, Ngân hành Trung ương có thể “vuốt lại chính sách tiền tệ” – “tapering” – kể từ Tháng Chín. Nôm na là giảm bớt lượng tiền bơm ra hàng tháng và còn hút về lượng tiền đang lưu hành. Kết quả là tiền sẽ hiếm hơn nên lãi suất có thể tăng.
Chúng ta đụng vào một nghịch lý là tin mừng về kinh tế (chỉ dấu phục hoạt), lại dẫn tới tin buồn về tài chánh (làm tăng lãi suất ngân hàng và phân lời trái phiếu), khiến trị trường chứng khoán sụt giá mạnh. Và cả thế giới bị chấn động, vì sau nhiều năm tiền nhiều và rẻ khiến Mỹ kim sụt giá thì người ta đi vào một chu kỳ mới, là hối suất Mỹ kim sẽ tăng cùng lãi suất tại Hoa Kỳ. May là tình hình kinh tế Hoa Kỳ chưa khả quan, biện pháp thu hồi tiền tệ chưa được áp dụng.
Đấy là lúc giới đầu tư chú ý đến người sẽ lên thay ông Bernanke làm Thống đốc vào năm tới… Mà chuyện ấy liên quan gì tới Trung Quốc?
Thưa rằng vì trái đất hình tròn và đồng tiền biết lăn.
Đồng tiền mà nằm bên Mỹ thì ăn lời rất ít vì lãi suất quá thấp. Người khôn ngoan bèn vay tiền rất rẻ bên Mỹ để kiếm lời ở nơi cao giá nhờ có lãi suất cao hơn. Khôn nhất là các đấng con trời tại Bắc Kinh hay Thượng Hải, Hong Kong, Singapore, v.v….
Họ vay đô la rẻ tại Mỹ, chuyển sang đồng Nguyên, có cái tên rất bịp là “Nhân dân tệ”, Renminbi, dưới nhiều hình thức như đầu tư trực tiếp hay xuất cảng, để cho vay với lãi suất cao hơn. Phần sai biệt giữa hai lãi suất Hoa-Mỹ là mức lời bỏ túi. Thuật ngữ kinh tế gọi phép kinh doanh đó là “carry trade”, nếu dịch là “giao dịch lợi sai” hay “dung tư xáo lợi” thì cũng chẳng rõ nghĩa hơn!
Mà không chỉ có vậy.
Năm 2008, khi Hoa Kỳ cắt lãi suất thì cũng là lúc Trung Quốc ào ạt bơm tiền để kích thích kinh tế vì tình trạng co cụm của thị trường xuất cảng cả Âu lẫn Mỹ. Lãnh đạo xứ này bơm qua hai ngả là tín dụng và công chi. Vì đặc tính xã hội chủ nghĩa của xứ này là khu vực kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, tín dụng từ hệ thống ngân hàng của nhà nước ưu tiên rót vào doanh nghiệp cũng của nhà nước, hay các công ty đầu tư địa phương do các cấp chính quyền địa phương lập ra.
Khối tín dụng tăng vọt từ những năm 2009 tạo ra phép ảo là kinh tế tăng trưởng mạnh khi toàn cầu đang bị suy trầm. Cái phép ảo còn kinh hại hơn vậy là nạn bong bóng đầu cơ trên thị trường gia cư địa ốc. Đất đai vốn thuộc quyền sở hữu của toàn dân, nhưng do nhà nước thống nhất quản lý. Và nhà nước phân quyền cho các địa phương tha hồ giành giật chia chác, vì đem lại 40% thu nhập ngân sách địa phương. Do đó, các ngân hàng của nhà nước, doanh nghiệp của nhà nước, cùng các đảng bộ ở địa phương thi nhau thổi bóng và tay chân cùng thân nhân của đảng viên cán bộ đều trở thành đại gia trong nền kinh tế ảo diệu này.
Khi núi nợ đã lên quá cao, lãnh đạo Bắc Kinh muốn kiểm soát hệ thống ngân hàng thì lại gặp một quy luật kinh tế khác, là “bít lỗ hà ra lỗ hổng”.
Đó là sự xuất hiện của các hình thức tín dụng ảo, là nghiệp vụ “shadow banking”, những hình thức đầu tư và cho vay mờ ám, thiếu sổ sách phân minh mà thừa rủi ro. Núi nợ tín dụng của Trung Quốc nay đã cao gấp đôi Tổng sản lượng nội địa và phân nửa là loại “ảo ảnh” sẽ bốc thành khói. Bên trong là những khoản tiền cho vay bằng kỹ thuật “carry trade”, vay tiền Mỹ với giá rẻ để tài trợ bằng loại tiền âm phủ là đồng Nguyên. Gọi là tiền âm phủ vì có giá trị của vàng mã.
Đấy là lúc chúng ta trở về với Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ.
Trong quá khứ, nhiều nước Đông Á cũng đã khôn ngoan như vậy là vay tiền rẻ của Mỹ theo loại tín dụng ngắn hạn để tài trợ các nghiệp vụ dài hạn. Khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ nâng lãi suất là nhà nhà đều lật đật rút tiền về Mỹ. Nạn “tư bản tháo chạy” như nước thủy triều đã gây ra vụ khủng hoảng tài chánh Đông Á vào năm 1997, dẫn tới suy thoái kinh tế 1998, và khủng hoảng ở nhiều nơi khác, kể cả Liên bang Nga.
Nhưng chính là vụ khủng hoảng đã khiến các nước Đông Á phải cải cách. Bị trước tiên mà sợ liều thuốc đắng, Thái Lan trì hoãn cải cách đến hơn chục năm mới thấy khá. Nam Hàn thì nuốt liều thuốc đắng và tháo gỡ vai trò của các tập đoàn “chaebol” – nguyên nghĩa là “tài phiệt” – nên sau khi chìm rất sâu thì đã bật lên rất mạnh.
Khi biến cố này bùng nổ vào đầu Tháng Bảy năm 1997, Bắc Kinh còn đang hồ hởi với vụ Hương Cảng hồi quy cố quốc trước đó một ngày. Và thời đó, kinh tế Trung Quốc chưa hội nhập vào thế giới hình tròn của “toàn cầu hóa”, của nền kinh tế “nhất thể hóa”. Ngày nay thì đã khác xưa.
Luồng tư bản nóng đã như thủy triều chảy vào Trung Quốc và nhờ định hướng của nhà nước, với màu sắc Trung Hoa, đã dẫn đến nạn đầu cơ và cho vay ảo. Khi Ngân hàng Hoa Kỳ điều chỉnh chính sách tiền tệ và nâng lãi suất, ta sẽ thấy thủy triều rút. Để lại đằng sau là những trái bóng bể, là ngân hàng vỡ nợ, là nạn suy thoái kinh tế. Vì vậy, chúng ta sẽ chứng kiến một sự lạ.
Đó là Hoa Kỳ bóp cò bên này, bên kia đại dương là hàng loạt bóng bể và ngân hàng phơi thây.
Hoa Kỳ không là thủ phạm, nhưng dân Trung Quốc vẫn là nạn nhân, chỉ vì lãnh đạo kiêu căng và tay chân thì tham lam tưởng bở. Phải chăng, “tham sân si” cũng là một quy luật kinh tế?
Nguyễn-Xuân Nghĩa

Sunday, November 24, 2013

Từng có một “siêu bão Haiyan” đổ bộ vào Việt Nam

Từng có một “siêu bão Haiyan” đổ bộ vào Việt Nam làm chết hàng chục ngàn người

Cách đây hơn 100 năm, miền Nam nước ta từng chịu đựng một cơn siêu bão kèm theo sóng thần, hậu quả còn thảm khốc hơn thế.
Bà con miền Trung nước ta vừa may mắn thoát khỏi một tai họa khủng khiếp khi siêu bão Haiyan đã không đổ bộ vào đất liền. Những thông tin, hình ảnh về hậu quả bão Haiyan vừa “vùi dập” nước láng giềng Philippines khiến chúng ta không khỏi chạnh lòng bởi sự khủng khiếp của nó: Hàng ngàn người chết, hàng chục ngàn ngôi nhà bị tàn phá, cả một thành phố bị san bằng...
Siêu bão số 1 kèm theo sóng thần
Đó là cơn bão năm Giáp Thìn - 1904. Kỳ lạ là cơn bão đầu tiên trong năm này (bão số 1) ập vào Nam Bộ cuối mùa khô, khi mới có vài cơn mưa đầu mùa. Đây là trận bão kèm theo sóng thần duy nhất được ghi nhận ở vùng đất Nam Bộ, là trận sóng thần kinh hoàng nhất được ghi nhận trên toàn cõi Việt Nam từ xưa tới nay.
Tâm bão, kèm theo là sóng thần, đổ bộ vào vùng đất Gò Công (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), rồi lan rộng ra các vùng chung quanh như Mỹ Tho, Long An, Bến Tre, Sài Gòn...
Bờ biển Gò Công- nơi đón cơn bão năm Giáp Thìn - 1904.
Nhiều cuốn sách, bài báo đã viết về trận bão kinh hoàng này, trong đó 2 tác giả Huỳnh Minh với “Gò Công xưa và nay” và Việt Cúc với “Gò Công cảnh cũ người xưa” đã ghi lại nhiều tư liệu về trận bão năm Thìn này.
Hôm ấy vào ngày 16.3 âm lịch (nhằm ngày 1.5.1904). Mọi người không ai nghĩ là sẽ có một trận bão tố sắp xảy ra vì từ trước
tới nay Nam Kỳ vốn là đất hiền hoà, ít thiên tai. Các tỉnh bị thiệt hại nặng nhất là Gò Công, Mỹ Tho (đều thuộc Tiền Giang ngày nay), Tân An, Chợ Lớn (Long An nay), Gia Định (TP.Hồ Chí Minh nay) và dọc theo vùng duyên hải. Nhiều làng gần bờ biển đã bị sóng thần cao đến 4-5m lôi cuốn đi mất. Sóng thần tiến vào các sông ngòi và có ảnh hưởng đến tận Bến Lức (Long An), cách bờ biển khoảng 50 cây số.
Hai tỉnh Gò Công và Mỹ Tho bị ảnh hưởng của cơn bão nặng nề nhất. Nhiều làng ven biển ở Gò Công đang làm lễ cúng thần, xây chầu hát bội thì cuồng phong nổi dậy ầm ầm, mây mù tứ phía, mưa tuôn xối xả, sóng nước tràn vào. Những đợt sóng đầu tiên cuốn mất nhà cửa, nước dâng thật nhanh, lên cao 4-5m, ngập lút cả ngọn cây. Ở Vàm Láng không chỉ các ghe nhỏ, mà cả tàu sắt cũng bị quăng lên bờ.
Nhiều người mắc kẹt trên các ngọn cây, hai ba ngày quần áo rách tả tơi, đói khát. Một số người sống sót nhờ đeo bám theo các đống rơm trôi lênh đênh trên mặt nước. Rắn rít bám theo các ngọn cây nóc nhà, một số người bị rắn cắn chết.
Có 6 làng ven biển bị tổn thất rất nặng là: Gia Thuận, Kiểng Phước, Bình Ân, Tân Bình Điền, Tăng Hoà và Tân Thành. Quá bất ngờ vì bão tố diễn ra trong nháy mắt, hầu như gia đình nào cũng bị tản mát trôi theo dòng nước, có người trôi tận tới Cần Đước (Long An), Chợ Đệm (Gia Định), cách Gò Công trên dưới 50km.
Xác người vắt đầy trên cây
Ở Gò Công và các vùng lân cận, qua ngày 17.3 âm lịch, nước mới rút cạn được một nửa, còn khoảng 1,5m. Người ta bơi xuồng đi khắp nơi để tìm xác người thân. Và tới hôm sau nữa thì mới thấy mặt đất, quang cảnh thật là hãi hùng. Mãi đến ngày 19.3 âm lịch, chính quyền mới tổ chức chôn cất những người chết, gặp đâu chôn đó. Hàng trăm gia đình không còn ai sống sót, hàng ngàn gia đình có người chết.

Dinh Tỉnh trưởng Gò Công từng bị sụp đổ do cơn bão năm 1904.
Các vùng lân cận của tỉnh Gò Công có bán kính năm sáu chục cây số như Bến Tre, Mỏ Cày, Tân An cũng bị thiệt hại nặng nề. Đèn đường, dây thép (điện thoại, điện tín) ở thị xã Gò Công, TP.Mỹ Tho ngã đổ khắp nơi, thậm chí dinh tỉnh trưởng cũng bị sập đổ. Cây cối ngã rạp la liệt bít cả lối đi, xác người nằm vắt trên cây hoặc bị mắc kẹt trong các bụi cây.
Kết quả thống kê thiệt hại của hai tỉnh Gò Công cho biết: Trên 60% nhà bị sập đổ, 5.000 người chết trôi ở các làng ven biển, 80% gia súc bị chết...
Vào cái ngày định mệnh đó, đúng lúc đình làng Tân Bình Điền (Gò Công) đang hát tuồng Quan Công phò nhị tẩu, dân chúng xem rất đông. Đang hồi gay cấn hấp dẫn thì bão tới, sóng biển ập vào, người xem, đào kép đua nhau bỏ chạy tán loạn. Đến khi chính quyền tổ chức kiếm xác thì người ta tìm thấy cả xác “Quan Công”, “Tào Tháo” nằm vắt vẻo trên ngọn tre, đống rơm, mặt mày còn nguyên son phấn!
Thị xã Tân An cách biển khoảng 50 cây số cũng bị ảnh hưởng nặng. Theo mô tả của Đào Văn Hội trong “Tân An ngày xưa”, thì xe lửa Sài Gòn - Mỹ Tho cũng bị đổ nhào: “Xe lửa chạy tới Tân An/Tốp máy chẳng kịp ngã ngang té nhào”.
Nước sông Vàm Cỏ Tây, sông Bảo Định, kinh Lính Tập dâng lên, nhiều người chạy không kịp bị nước cuốn trôi. 7 giờ sáng ngày 17.3 âm lịch, mưa tạnh dần, nước rút dần. Quang cảnh lúc ấy trông thật điêu tàn, tất cả các nhà lá đều sập, các cây keo, cây me trốc gốc đến chín mươi phần trăm. Trên sông Vàm Cỏ xác người nổi, trôi theo dòng nước.
Đến thập niên 1950, ở vùng Gò Công, Mỹ Tho, Tân An vẫn còn tổ chức “giỗ hội” vào ngày 16.3 âm lịch. Vào ngày ấy, hàng ngàn đám giỗ được tổ chức, hầu như nhà nào cũng có giỗ. Cảnh “giỗ hội” đã đi vào ca dao: “Tháng ba, mười sáu lai niên/ Cũng trùng một bữa, đậu tiền cúng chung”. Thế hệ những người chết trong cơn bão Giáp Thìn - năm 1904 giờ đã lên hàng “cố”, hàng “sơ” của những người đang sống, nên hầu như ít còn được cúng giỗ, dấu ấn về “giỗ hội” cũng từ đó mà nhạt nhòa dần.
Giống như Tacloban của Philippines
Ngày ấy, cơn siêu bão đã tàn phá thành phố Sài Gòn không khác gì thành phố Tacloban của Philippines vừa qua. Tờ Nam Kỳ tuần báo (do Hồ Văn Trung - tức nhà văn Hồ Biểu Chánh làm chủ nhiệm) số 85, ra ngày 8.6.1944, có bài “Trận bão năm Thìn” của Mỹ Xuân tường thuật khá chi tiết về cơn bão này trên đất Sài Gòn. Cơn bão diễn ra đúng vào ngày chủ nhật - 1.5.1904.
Hôm ấy cũng đúng vào ngày bầu cử hội đồng thành phố. Chiều hôm trước là ngày khánh thành tuyến xe lửa Sài Gòn - Gò Vấp. Trong bài diễn văn của mình, một quan chức Sài Gòn dõng dạc tuyên bố: “Nam Kỳ vốn là Phật địa, không bao giờ có bão lụt tàn phá như các xứ thuộc địa khác. Ấy là sự bảo đảm của nên thịnh vượng chung cho xứ sở, cho mọi người, mà cũng là một hạnh phúc riêng cho các công ty xe lửa…”.
Sáng 1.5, từ 8h cho đến 12h tại Sài Gòn mưa cứ lâm râm. Đến 13h trưa gió bắt đầu thổi mạnh và đến 15h chiều gió càng dữ dội. Người dân Sài Gòn cứ ngỡ là trời dông lớn chứ không ai nghĩ đến bão lụt. Xe ngựa, xe kéo, khách bộ hành kiếm chỗ trú ẩn hoặc chạy về nhà, đường sá vắng tanh. Mới 16h chiều, trời đã tối sẫm, điện bị cúp.
Ở các nhà hàng, quán cơm, người ta phải đốt đèn cầy hoặc đèn dầu, gió mạnh cứ thổi tắt hoài. Cuộc bầu cử hôm ấy vắng mặt tới trên 400 cử tri do thời tiết xấu, kết quả kiểm phiếu bị huỷ bỏ và phải dời lại chủ nhật tuần sau. Bài báo mô tả: “Đến 17h chiều, trận dông mưa mới thật kịch liệt cực điểm. Dông gió tung rớt mái nhà, đốn ngã cây cối, đứt mất dây điện và dây thép, nhận chìm tàu ghe, cột đèn hay cột dây thép xiêu ngã liệt địa. Đường sá vắng teo không người lai vãng, tiếng dông mưa thổi ào ào như trời than đất thở”.
Dọc theo sông Sài Gòn, tàu, sà lan, ghe tam bản, ghe chài, ghe lồng đứt dây, trôi ra giữa sông bi sóng gió đánh ập, va đập nhau mà chìm. Đến 19h tối, các chiếc tàu lớn Canebière, Adour và Hop Sang bị sóng đẩy lên bờ nằm ngả nghiêng. Chiếc Patroclus đang đậu ở Thủ Thiêm đứt dây neo, chạy ra giữa sông đụng chìm 4 chiếc ghe chở đá của bà Roussel, đâm thủng một chiếc ghe chài chở lúa, nhận chìm khoảng một chục chiếc tam bản trước khi chìm xuống bến Nhà Rồng.
Chỉ riêng các ghe chở lúa, chở dầu, chở hàng hóa có đến 43 chiếc bị chìm trong đêm hôm đó. Từ 22h đêm, trời đã bớt dông nhưng mưa vẫn ào ào như trút cho tới sáng hôm sau mới ngớt.
Thống kê sơ bộ có hơn 900 cây lớn trốc gốc nằm ngổn ngang trên các con đường Sài Gòn. Báo L’Opinion và Le Courrier de Saigon tường trình về trận bão này: “Dọc theo đường xe lửa chạy dựa theo mé sông từ Sài Gòn vô Chợ Lớn (tuyến xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho), có một cái vòi rồng trên trời thò xuống làm đổ ngã một toa xe, giật đứt mái nhà ở đềpô xe lửa và đè nhẹp cả một cái nhà lá khác. Cách đó mươi thước, cái vòi rồng ấy hốt một người nam đem tuốt lên không trung rồi khiêng đại xuống mặt đất. Khi thiên hạ chạy đến toan cứu kẻ vô phước thì người ta thấy thân hình anh ta đã dẹp đép như tờ giấy và lại dài nhằn ra đo đến được 3 thước. Bấy giờ muốn khiêng kẻ bạc mạng đến nhà xác, người ta cứ xấp anh lại làm hai!...”.

Thiệt hại về tài sản do cơn bão gây ra chỉ riêng tại Sài Gòn đã lên đến 40 triệu đồng, tương đương với khoảng 1.000 tỉ đồng ngày nay. Số người chết ở riêng Sài Gòn lên đến hơn 3.000 người!
http://laodong.com.vn/xa-hoi/tung-co-mot-sieu-bao-haiyan-do-bo-vao-viet-nam-lam-chet-hang-chuc-ngan-nguoi-159468.bld

Saturday, November 23, 2013

Xem hình
Miếu đền bá tánh luôn hương khói,
Sao lại co đầu rút dưới mu?!




VỊNH THẦN KIM QUY

Hơn cả đế vương, sá kể hầu,
Người người nể mặt, há chơi đâu.
Miếu đền bá tánh luôn hương khói,
Sao lại co đầu rút dưới mu?! *

                                 Kha Tiệm Ly


Họa:


Ơn thần Kim Quy

Dẫu chẳng đế vương chẳng tước hầu
Vì đời trừ bạo muốn chi đâu.
Móng chân tiềm ẩn siêu thần lực
Hành sự đầu không ló khỏi mu !
                      
                       Trần Như Tùng


 VỊNH RÙA ĐỘI CHÂN ĐÈN

 
Có khối người nghinh lẫn kẻ hầu
Trong ngoài phủ phục kém ai đâu?

Đội đèn, mi ngỡ mình nên Thánh
Nhưng vẫn vì mu mãi rúc đầu!
(To nhỏ đầu nào cũng nép mu!)


                           Thanh-Huyền

http://datdung.com/modules.php?name=News&op=viewst&sid=9753#axzz2lV5sBrlK